Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Đánh giá hiện trạng chất thải rắn thị xã Đồng Xoài

Hình 2.1. Bản đồ hành chính thị xã Đồng Xoài
5
2.1.2. Đặc điểm địa hình
Thị xã Đồng Xoài có địa hình rất đa dạng và phức tạp. Trong thị xã vừa có địa
hình đồi núi thấp lại vừa có địa hình trung du xen lẫn với đồng bằng nhỏ hẹp và
bàu trũng. Địa hình thấp dần về phía Tây và Tây Nam.
2.1.3. Đặc điểm địa chất
Phần lớn thị xã Đồng Xoài có nền địa chất là lớp đất phun trào Bazan thuộc
các thời kỳ khác nhau. Trên nền địa chất này, cùng với yếu tố khí hậu nóng ẩm lớp
vỏ phong hoá phát triển khá dày và hình thành các lớp đất phát triển trên Bazan có
độ dày tầng đất trên 100cm, phần còn lại là đất phát triển kém.
2.1.4. Đặc điểm khí hậu
Thị xã Đồng Xoài thuộc khí hậu miền Đông Nam Bộ mang đặc điểm khí hậu
nhiệt đới xích đạo gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa kéo dài từ tháng 5
đến tháng 11 và mùa khô thường kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Các
đặc điểm khí hậu thể hiện qua các yếu tố khí tượng như sau:
- Chế độ mưa: lượng mưa trung bình quân hàng năm biến động từ 2.045 -
2.325 mm. Mùa mưa thường diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11 và chiếm 90% lượng
mưa cả năm. Số ngày mưa trong năm khoảng 142 ngày, mưa nhiều nhất vào các
tháng 7, 8 và tháng 9, các tháng 1, 2, 3 thường ít có mưa. Mưa gây lũ thường xảy
ra vào các tháng 8, 9, 10.
- Nhiệt độ không khí: do nằm trong vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu, cận xích
đạo nên thị xã đồng xoài có nhiệt độ bình quân trong năm cao đều và ổn định từ
25,8 - 26,20C. Nhiệt độ bình quân thấp nhất là 21,5 - 220C. Nhiệt độ bình quân
cao nhất từ 31,7 - 32,20C. Nhìn chung sự thay đổi nhiệt độ qua các tháng trong
năm không lớn, khoảng 0,7 - 30C.
- Nắng: thị xã Đồng Xoài nằm trong vùng dồi dào nắng. Tổng tích ôn bình
quân trong năm từ 9.288 – 9.3600C. Tổng số giờ nắng trong năm trung bình từ
2.400 - 2.500 giờ. Số giờ nắng bình quân trong ngày 6,2 - 6,6 giờ. Thời gian nắng
nhiều nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4; thời gian ít nắng nhất vào các tháng 6, 7, 8, 9.
6
- Độ ẩm không khí: độ ẩm tương đối trung bình năm tại các trạm đo từ 80,8 -
81,4%. Bình quân năm thấp nhất là 45,6 - 53,2%. Tháng có độ ẩm cao nhất là
88,2%, tháng có độ ẩm thấp nhất là 16%.
- Bốc hơi: lượng bốc hơi hàng năm khá cao từ 1.113 - 1.447 mm. Thời gian
kéo dài quá trình bốc hơi lớn nhất vào các tháng 2, 3, 4.
- Gió: chịu ảnh hưởng của 3 hướng gió: Chính Đông, Đông - Bắc và Tây –
Nam theo 2 mùa. Mùa khô gió chính Đông chuyển dần sang Đông - Bắc, tốc độ
bình quân 3,5 m/s. Mùa mưa gió Đông chuyển dần sang Tây - Nam, tốc độ bình
quân 3,2 m/s.
Nhìn chung chế độ khí hậu về cơ bản cho phép đẩy mạnh phát triển ngành sản
xuất nông nghiệp. Tuy nhiên lượng mưa phân hóa theo mùa đã chi phối mạnh mẽ
đến sản xuất nông nghiệp, cần phải bố trí cây trồng và mùa vụ cho phù hợp nhằm
khắc phục được tình trạng thiếu nước về mùa khô và phát huy được hiệu quả kinh
tế cao trên đơn vị diện tích canh tác, đồng thời có tác dụng ngăn ngừa được quá
trình xói mòn rửa trôi và thoái hóa đất đai, nhất là về mùa mưa trên địa bàn tỉnh.
2.1.5. Đặc điểm thuỷ văn
Hệ thống sông ngòi ở đây tương đối ít, chỉ có những con suối chảy qua với
lượng nước thấp, bao gồm một số hồ đập và suối như: Hồ Suối Cam, Hồ Suối
Lam, Suối Rạt và Suối Đồng Tiền…. những con suối này sẽ góp phần lớn cho việc
cung cấp lượng nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.
Mùa mưa thì lượng nước tương đối lớn, nhưng về mùa khô thì lại thiếu nước
cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt. Đa số các hộ dân sử dụng nước giếng khoan
để sinh hoạt và sản xuất.
2.1.6. Đặc điểm sinh thái và đa dạng sinh học
• Đặc điểm thực vật
Thị xã Đồng Xoài được xem là vùng sinh thái nông nghiệp với cây công
nghiệp dài ngày chiếm ưu thế, bên cạnh đó còn có các loại cây ngắn ngày, cây
rừng tự nhiên, trảng cỏ, cây bụi…
7
Thành phần thực vật chủ yếu ở đây bao gồm các loại cây trồng dài ngày như:
cây điều, cây hồ tiêu, cây cà phê và cây cao su…
• Đặc điểm động vật
Các loài động vật quý hiếm chủ yếu tập trung ở các vườn quốc gia. Tại thị xã
Đồng Xoài chỉ có các thành phần nhóm động vật (thú, chim, bò sát, ếch nhái, cá)
và một số loài động vật phiêu sinh, động vật đáy sống ở dưới nước. Các loài động
vật phiêu sinh và động vật đáy tập trung chủ yếu ở Hồ Suối Cam và Hồ Suối Giai.
2.2. Điều kiện kinh tế xã hội
2.2.1. Đặc điểm kinh tế [1]
Thị xã Đồng Xoài thuộc tỉnh Bình Phước nên chịu sự chi phối và phát triển
chung về kinh tế của thị xã nói riêng và của tỉnh Bình Phước nói chung. Phát huy
những thành quả đạt được, năm 2008 tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bình Phước tíêp
tục ổn định và phát triển.
- Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm 2008 ước khoảng 58.635 tấn,
tăng 3,6% so với cùng ký năm trước và đạt 95,7% so với kế hoạch năm.
- Giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng ước đạt 1.655.503 triệu đồng đạt
68.4% kế hoạch năm, tăng 27,8 so với cùng ký năm trước.
- Kim ngạch xuất khẩu ước 207.585 ngàn USD đạt 66,3% kế hoạch năm và
tăng 18,2% so với cùng ký năm trước.
2.2.2. Đặc điểm dân số
Thị xã Đồng Xoài gồm 5 phường và 2 xã. Tình hình dân số tại thị xã đồng
xoài theo số liệu thống kê năm 2008 như sau[1]:
- Dân số toàn thị xã: khoảng 69.305 người, mật độ dân số tính được là 415
người/km
2
.
- Thành phần dân cư bao gồm nhiều dân tộc như Kinh, Stiêng, Khơme,
Tày…
- Dân số thị xã chủ yếu tăng mạnh do cơ học. Đây cũng chính là thị trường
tiềm năng cho việc phát triển các hoạt động dịch vụ thương mại, sản xuất công
nghiệp trên địa bàn thị xã.
8
- Thị xã Đồng Xoài là trung tâm văn hoá, chính trị. Hiện nay thị xã Đồng
Xoài được xếp vào đô thị loại III.
2.2.3. Sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp [16]
• Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp đã hình thành các vùng chuyên canh cây trồng có quy
mô lớn. Các loại cây trồng chính chủ yếu là cây lương thực như: khoai mì; các cây
công nghiệp hàng năm như: đậu phộng, mè và các cây công nghiệp dài ngày có gía
trị kinh tế cao như: cao su, điều, cà phê, tiêu…. chiếm vị trị quan trọng trong tăng
trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân.
• Lâm nghiệp
Rừng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tham gia điều hoà các dòng
chảy của các con sông, suối, hồ.
Trong những năm qua, thị xã đã tập trung phát triển rừng một cách bền vững,
đảm bảo lợi ích hài hoà giữa phát triển rừng với môi trường sinh thái, sự phát triển
của nền kinh tế và đời sống của nhân dân trước mắt và lâu dài với mục tiêu bảo vệ
và phát triển 3 loại rừng: rừng bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ và rừng sản
xuất, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, trồng mới và khoanh nuôi tái sinh, quản lý
và khai thác có tái tạo diện tích rừng trồng.
2.2.4. Công nghiệp
Ngành công nghiệp của thị xã có điểm xuất phát thấp. Trong những năm gần
đây, nhịp độ phát triển công nghiệp tăng lên, hình thành các khu sản xuất công
nghiệp với quy mô cao. Số lượng lao động trong sản xuất công nghiệp cũng tăng
cao.
Hiện nay trên địa bàn thị xã đã hình thành và phát triển các ngành công nghiệp
như: công nghiệp chế biến nông lâm sản và đồ uống, công nghiệp sản xuất vật liệu
xây dựng, công nghiệp cơ khí, công nghiệp dệt may, da dày, công nghiệp sản xuất
phân phối điện nước. Trong đó, nhóm ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản
và đồ uống đang là ngành công nghiệp chiếm ưu thế về chiếm lĩnh thị trường trong
nước và xuất khẩu do phát huy được thế mạnh nguồn nguyên liệu sẵn có của địa
9
phương. Tuy nhiên, song song với phát triển công nghiệp là vấn đề ô nhiễm môi
trường không khí, nước, hiện nay tại các khu vực có cơ sở sản xuất công nghiệp.
Trên địa bàn thị xã hiện nay mới thành lập khu công nghiệp Đồng Xoài II với
diện tích 84,7 ha. Mặc dù trên địa bàn thị xã đã được quy hoạch các khu công
nghiệp, cụm công nghiệp nhưng hiện nay số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp
vẫn mang tính tự phát, nằm rải rác trong các khu dân cư, hình thành không theo
quy hoạch tổng thể vẫn còn khá nhiều, công nghệ sản xuất cũ kỹ, lạc hậu, hệ thống
xử lý chất thải hầu như không có hoặc có nhưng không đạt yêu cầu, đang gây áp
lực lớn lên môi trường [13].
Hậu quả của ô nhiễm công nghiệp là vô cùng to lớn, việc khắc phục ô nhiễm
môi trường rất phức tạp và tốn kém, do đó ngay từ bây giờ các cấp, các ngành, các
cơ sở sản xuất phải có biện pháp hữu hiệu trong phát triển công nghiệp đi đôi với
bảo vệ môi trường.
2.2.5. Thương mại - dịch vụ
Thương mại của thị xã trong thời gian qua có bước phát triển khá, hàng hóa
phong phú và đa dạng hơn, đáp ứng các yêu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân
ngày một tốt hơn. Mạng lưới thương mại được mở rộng.
Mạng lưới chợ: hiện nay trên địa bàn thị xã, lĩnh vực thương mại dịch vụ phát
triển khá tập trung với một siêu thị Coopmart lớn vừa được mở. Tuy nhiên, quy
mô còn nhỏ, hàng hóa dịch vụ chưa phong phú đa dạng, chất lượng phục vụ chưa
cao.
Xuất nhập khẩu còn khó khăn, thị trường chưa được mở rộng, mặt hàng xuất
khẩu chưa phong phú đa dạng, chủ yếu là hàng nông sản dưới dạng thô, chưa qua
chế biến, giá cả không cao và dễ bị tác động từ các nước và khu vực nơi có những
mặt hàng tương tự.
2.2.6. Điều kiện hạ tầng kỹ thuật [20]
Nguồn điện: sử dụng nguồn điện hiện hữu có cấp điện áp 220V bố trí dọc theo
tuyến đường QL14.
Cấp nước: sử dụng xe bồn, lấy nước từ hồ suối Cam.
10
Thoát nước: theo hệ thống thoát nước đã có sẵn.
Giao thông liên lạc: nằm ngay trung tâm tỉnh Bình Phước nên giao thông đi lại
và vận chuyển h àng hóa rất thuận lợi cho phát triển kinh tế cũng như các dịch vụ
khác.
2.2.7. Đô thị hoá và các vấn đề về môi trường
Thị xã là nơi có nhiều dân cư tập trung đông nhất, điều đó sẽ làm cho lượng
chất thải phát sinh càng nhiều. Theo số liệu điều tra về dân số và tốc độ phát triển
kinh tế cho thấy: lượng chất thải tính bình quân 1 người thải ra là khoảng
0.91kg/người/ngày (năm 2008). Như vậy với dân số của thị xã khoảng 69.305
người thì lượng rác thải bình quân là 63.067,55 kg/ngày hay 63 tấn rác/ngày.[5]
Qua thống kê điều tra cho thấy, dân số tư nhiên ở thị xã ngày càng tăng cao,
và số dân cơ học cũng tăng cao từ quá trình di cư ở các vùng nông thôn vào thị xã.
Đô thị càng phát triển mạnh sẽ càng thu hút số lượng dân cư từ các nơi tập trung
vào. Quá trình này sẽ làm thay đổi lối sống bản địa cũ và làm nảy sinh nhiều vấn
đề trong việc quản lý đô thị và môi trường. Đô thị hoá càng cao thì sự tăng trưởng
về kinh tế càng mạnh do đó tỷ lệ lao động chết sẽ giảm đi.
Đô thị hoá phát triển sẽ làm tăng dân số ở thị xã và hậu quả là sự quá tải đối
với hệ thống kỹ thuật hạ tầng đô thị (giao thông, cấp nước, điện, hệ thống thu gom
và xử lý chất thải sinh hoạt…), làm hao hụt nguồn tài nguyên trong vùng. Bên
cạnh sự gia tăng dân số cao sẽ gây mất cân bằng về việc làm, giữa tỷ lệ lao động
có việc làm và chưa có việc làm. Sự nghèo đói và giàu có cũng sẽ chênh lệch rất
nhiều, nhất là tỷ lệ nghèo đói sẽ tăng cao, điều đó sẽ kéo theo nhiều bệnh tật đối
với trẻ em và cả người lớn. Trẻ em sẽ bị suy dinh dưỡng nhiều và thiếu sức đề
kháng để chống chọi bệnh tật, điều đó đòi hỏi chính quyền thị xã có những giải
pháp để xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm ổn định cho nhiều người dân.
Đô thị hoá, công nghiệp hoá càng phát triển, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp
về đất đai và nhà ở. Tình trạng thiếu đất sẽ tăng cao dẫn đến nhiều người dân phải
chật vật với chổ ở. Điều đó làm cho thị xã xuất hiện nhiều nhà cao tầng gây hiệu
11
ứng nhà kình và vấn đề cấp thoát nước, vệ sinh chất thải sinh hoạt càng gây ô
nhiểm môi trường, hệ thống nước thải không đảm bảo.
Đô thị hoá và công nghiệp hoá sẽ là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng về kinh
tế và xã hội cao cho thị xã. Cung cấp nhiều cơ hội mới giúp thị xã có nhiều hướng
để phát triển và tạo một đô thị mạnh mẽ sạch đẹp.
CHƯƠNG 3
12
CÁC VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ
3.1. Định nghĩa chất thải rắn
Chất thải rắn (CTR) (chủ yếu là chất thải rắn đô thị hay rác thải đô thị) là yếu
tố làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề về môi trường sinh thái, chúng đang có nguy
cơ đe doạ môi trường sống ở các đô thị. Chất thải rắn đô thị (CTRĐT) không
những là vấn đề nhức nhối đối với các nhà lãnh đạo, quản lý, quy hoạch mà còn là
sự lo lắng của các cư dân ở các đô thị. Vì vậy quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu về
chất thải rắn, vấn đề về môi trường do chất thải rắn gây ra là công việc hết sức cần
thiết nhằm bảo vệ môi trường và tái sử dụng chúng vào mục đích có lợi cho xã hội
và nền kinh tế [6].
Chất thải rắn được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của
con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng
hay khi không muốn dùng nữa [6].
Bảng 3.1. Định nghĩa thành phần của chất thải rắn sinh hoạt
Thành phần Định nghĩa Thí dụ
1. Các chất cháy được
a) Giấy
b) Hàng dệt
c) Thực phẩm
d) Cỏ, gỗ củi, rơm rạ…
e) Chất dẻo
f) Da và cao su
2. Các chất không cháy
a) Các kim loại sắt
b) Các kim loại phi sắt
Các vật liệu làm từ giấy
và bột giấy
Có nguồn gốc từ các sợi
Các chất thải ra từ đồ ăn
thực phẩm
Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ gỗ, tre và
rơm…
Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ chất dẻo
Các vật liệu và sản phâm
được chế tạo từ da và cao
su
Các loại vật liệu và sản
phẩm được chế tạo từ sắt
mà dễ bị nam châm hút.
Các túi giấy, các mảnh
bìa, giấy vệ sinh …
Vải , len , nylon …
Các cọng rau , vỏ quả,
thân cây, lõi ngô …
Đồ dùng bằng gô như
bàn ghế, thang, giường,
đồ chơi…
Phim cuộn, túi chất dẻo,
chai lọ chất dẻo, các đầu
vòi bằng chất dẻo, dây
bện …
Bóng, giầy, ví, băng cao
su …
Vỏ hộp, dây điện, hàng
rào, dao, nắp lọ …
13
c) Thủy tinh
d) Đá và sành sứ
3. Các chất hỗn hợp
Các loai vật liệu không bị
nam châm hút
Các loại vật liệu và sản
phẩm chế tạo từ thủy tinh
Bất kỳ các lọai vật liệu
không cháy khác ngoài
kim loại và thủy tinh
Tất cả các loại vật liệu
khác không phân loại ở
bảng này. Loại này có thể
được chia thành 2 phần:
Kích thước lớn hơn 5 và
loại nhỏ hơn 5mm
Vỏ hộp nhôm, giấy bao
gói, đồ đựng …
Chai lọ , đồ đựng bằng
thủy tinh, bóng đèn …
Vỏ trai, ốc , xương, gạch
đá, gốm …
Đá cuội, cát, đất, tóc …
(Nguồn: Công ty môi trường tầm nhìn xanh, năm 2007)
3.2. Nguồn tạo thành (phát sinh) chất thải rắn đô thị [3]
Các nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải rắn đô thị bao gồm:
Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt)
Từ các trung tâm thương mại
Từ các công sở, trường học, công trình công cộng
Từ các dịch vụ đô thị, sân bay
Từ các hoạt động công nghiệp
Từ các hoạt động xây dựng đô thị
Từ các trạm xử lý chất thải…
Bảng 3.2. Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Nguồn
Các hoạt động và khu vực liên
quan đến việc sản sinh ra rác
Các thành phần của
rác
Khu dân cư Các hộ gia đình
Thức ăn thừa, rác, tro
và các loại khác
Khu
Thương mại
Cửa hiệu, nhà hàng, chợ, văn
phòng, khách sạn, xưởng in, sửa
chữa ô tô, y tế
Thức ăn thừa, rác, tro,
chất thải rắn do quá
trình phá vỡ, xây dựng
và các loại khác
Đô thị Kết hợp cả hai thành phần trên
Kết hợp cả hai thành
phần trên
Khu
công cộng
Đường phố, khu vui chơi, bãi
biển, công viên,
Chất thải rắn và các loại
khác
Khu vực sản Chất thải rắn sinh hoạt, rác từ quá
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét