Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Địa chất dầu khí vùng bồn trũng Cửu Long

GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
2. Các trầm tích Kainozoi :
Theo tài liệu của Vietsovpetro “Thống nhất đòa tầng trầm tích Kainozoi
trũng Cửu Long” – 1987, các thành tạo trầm tích Kainozoi có những đặc điểm
chính như sau :
- Các thành tạo trầm tích theo bình đồ cũng như theo mặt cắt khá phức
tạp, bao gồm các loại đá lục nguyên tướng châu thổ và ven biển.
- Trầm tích Kainozoi phủ bất chỉnh hợp trên móng trước Kainozoi với
độ dày từ 3-8 km, càng đi về trung tâm bồn trũng độ dày càng tăng, chỗ sâu
nhất lớn hơn 8 km.
- Các trầm tích Kainozoi ở bồn Cửu Long có mặt các phân vò đòa tầng
có các hóa thạch đặc trưng được xác đònh bởi các bào tử phấn và vi cổ sinh.
Từ dưới lên bao gồm :
 Các thành tạo trầm tích Paleogen
♦ Trầm tích Eoxen P2:
Cho đến nay trầm tích cổ nhất ở trũng Cửu Long được coi là tương ứng
với tầng cuội, sạn sỏi, cát, xen lẫn với những lớp sét dày được thấy ở giếng
khoan Cửu Long 1 (Phụng Hiệp_ Cần Thơ), ở độ sâu 550m_2110m cuội có
kích thước lớn hơn 10cm. Thành phần của cuội bao gồm: granit, andersit,
gabro, tẩm sét đen, màu xanh , nâu , đỏ thẩm. Chúng đặc trưng cho trầm tích
molas, được tích tụ trong điều kiện dòng chảy mạnh, đôi chỗ rất cần nguồn
cung cấp. Trong trầm tích này nghèo hoá thạch, tuổi được xác đònh theo tài
liệu về cổ sinh.
Các thành tạo này chỉ gặp ở một ít giếng khoan ngoài biển khơi bể Cửu
Long, tuy nhiên có sự chuyển tướng cũng như trong môi trường thành tạo
(Nguyễn Giao, Lê Trọng Cán và nnk, 1987).

Trang5
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
♦ Trầm tích Oligocen (P
3
) :
Theo kết quả nghiên cứu đòa chấn, thạch học, đòa tầng cho thấy trầm
tích Oligocen của bồn trũng Cửu Long được thành tạo bởi sự lấp đầy đòa hình
cổ, bao gồm các tập trầm tích lục nguyên gồm các loại trầm tích sông hồ, đầm
lầy, trầm tích ven biển, chúng phủ bất chỉnh hợp lên móng trước Kainozoi. Ở
khu vực trung tâm của bồn trũng có thể trầm tích Oligoxen được phủ bất chỉnh
hợp lên các loạt trầm tích lót đáy tuổi Eoxen.
Theo kết quả phân chia phân vò đòa tầng đòa phương, trầm tích Oligocen
được chia thành : điệp Trà Cú – Oligocen hạ và điệp Trà Tân – Oligocen
thượng.
+ Trầm tích Oligocen hạ – điệp Trà Cú (P
3
1
tr.c) :
Bao gồm các tập sét kết màu đen, xám xen kẽ với các lớp cát hạt từ
mòn đến trung bình, độ lựa chọn tốt, gắn kết chủ yếu bởi xi măng Kaolinit,
lắng đọng trong môi trường sông hồ, đầm lầy hoặc châu thổ. Phần bên trên
của trầm tích Oligocen hạ là lớp sét dày. Trên các đòa hình nâng cổ ở đỉnh
thường không gặp hoặc gặp các lớp sét Oligocen hạ mỏng. Chiều dày của
điệp thay đổi từ 0 _ 3500m.
+ Trầm tích Oligocen thượng – điệp Trà Tân (P
3
2
tt) :
Gồm các trầm tích sông hồ, đầm lầy và trầm tích biển nông. Ngoài ra
trầm tích Oligocen thượng còn chòu ảnh hưởng của các pha hoạt động magma
vì thế còn tìm thấy ở đây các thân đá phun trào như Bazan, Anđezit, … Trầm
tích Oligocen thượng có thể chia thành hai phần theo đặc trưng thạch học của
chúng. Phần dưới bao gồm xen kẽ các lớp cát kết hạt mòn – trung, các lớp sét
và các tập đá phun trào. Phần trên đặc trưng bằng các lớp sét đen dày. Ở khu
vực đới nâng Côn Sơn, phần trên của mặt cắt tỉ lệ cát nhiều hơn. Ở một vài
nơi tầng trầm tích Oligocen thượng có dò thường áp suất cao. Chiều dày của
điệp thay đổi từ 100 _1000m.
Trang6
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
 Các thành tạo trầm tích Neogen :
♦ Trầm tích Miocen hạ – điệp Bạch Hổ (N
1
1
bh) :
Trầm tích điệp Bạch Hổ bắt gặp ở hầu hết các giếng khoan đã được
khoan ở bồn trũng Cửu Long. Trầm tích điệp này nằm bất chỉnh hợp trên các
trầm tích dưới, bề mặt của bất chỉnh hợp được phản xạ khá tốt trên mặt cắt
đòa chấn. Đây là bề mặt chỉnh hợp quan trọng nhất trong đòa tầng Kainozoi.
Dựa trên tài liệu thạch học, cổ sinh, đòa vật lý, điệp này được chia thành hai
phụ điệp :
• Phụ điệp Bạch Hổ dưới (N
1
1
bh
1
) :
Trầm tích của phụ điệp này là các lớp cát kết lẫn với các lớp sét kết và
bột kết. Càng gần với phần trên của phụ điệp khuynh hướng cát hạt thô càng
rõ. Cát kết thạch anh màu xám sáng, hạt độ từ nhỏ đến trung bình, độ lựa
chọn trung bình, được gắn kết chủ yếu bằng xi măng sét, Kaolinit, lẫn với ít
Cacbonat. Bột kết màu từ xám đến nâu, xanh đến xanh tối, trong phần dưới
chứa nhiều sét. Trong phần rìa của bồn trũng Cửu Long, cát chiếm một phần
lớn (60%) và giảm dần ở trung tâm bồn trũng.
• Phụ điệp Bạch Hổ trên (N
1
1
bh
2
) :
Phần dưới của phụ điệp này là những lớp cát hạt nhỏ lẫn với những lớp
bột rất mỏng. Phần trên chủ yếu là sét kết và bột kết, đôi chỗ gặp những vết
than và glauconit. Đây là tầng sét Rotalit có chiều dày 30_ 300m, chủ yếu
trong khoảng 50 _100m là tầng chắn khu vực tuyệt vời cho toàn bể.
Trong trầm tích điệp Bạch Hổ rất giàu bào tử Magnastriatites howardi
và phấn Shorae. Trầm tích của điệp có chiều dày thay đổi từ 500 _1250m
dược thành tạo trong điều kiện biển nông và ven bờ.
Trang7
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
♦ Trầm tích Miocen trung – điệp Côn Sơn (N
1
2
cs) :
Trầm tích điệp này phủ bất chỉnh hợp trên trầm tích Miocen hạ, bao
gồm: sự xen kẽ giữa các tập cát dày gắn kết kém với các lớp sét vôi màu
xanh thẫm, đôi chỗ gặp các lớp than.
♦ Trầm tích Miocen thượng – điệp Đồng Nai (N
1
3
đn) :
Trầm tích được phân bố rộng rãi trên toàn bộ bồn trũng Cửu Long và
một phần của đồng bằng sông Cửu Long trong giếng khoan Cửu Long 1. Trầm
tích của điệp này nằm chỉnh hợp trên trầm tích điệp Côn Sơn. Trầm tích phần
dưới gồm những lớp cát xen lẫn những lớp sét mỏng, đôi chỗ lẫn với cuội, sạn
kích thước nhỏ, Các thành phần chủ yếu là thạch anh, một ít những mảnh đá
biến chất, tuff. Trong sét đôi chỗ gặp than nâu hoặc bột màu xám sáng. Phần
trên là cát thạch anh với kích thước lớn, độ lựa chọn kém, hạt sắc cạnh. Trong
cát gặp nhiều mảnh hóa thạch sinh vật, glauconit, than và đôi khi cả tuff.
♦ Trầm tích Pliocen – Đệ Tứ – điệp Biển Đông (N
2
-Qbđ) :
Trầm tích của điệp này phủ bất chỉnh hợp lên trầm tích Miocen. Trầm
tích của điệp này đánh dấu một giai đoạn mới của một sự phát triển trên toàn
bộ trũng Cửu Long, tất cả bồn trũng được bao phủ bởi biển. Điệp này được
đặc trưng chủ yếu là cát màu xanh, trắng, có độ mài tròn trung bình, độ lựa
chọn kém, có nhiều glauconit. Trong cát có cuội thạch anh hạt nhỏ. Phần trên
các hóa thạch giảm, cát trở nên thô hơn, trong cát có lẫn bột, cát có màu hồng
chứa glauconit.
Trang8
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 3
KIẾN TẠO
Ởû bồn trũng Cửu Long, các tầng phản xạ đòa chấn chính đã được liên
kết và vẽ bản đồ, đặc điểm cấu trúc khu vực của bồn trũng được thể hiện rõ
trên các bản đồ này đặc biệt là bản đồ nóc mặt móng. Có thể phân chia các
cấu trúc đòa chất chính của bồn trũng Cửu Long như sau:
Võng trung tâm Cửu Long chiếm một diện tích khá lớn ở phía Tây Bắc
lô 09. Móng sụt tới độ sâu 6.5 km_7.0 km.Trục của võng kéo dài theo phương
vó tuyến sang đến lô 16.
Võng Nam Cửu Long nằm ở giữa lô 09. Móng sụt tới độ sâu 8 km.
Võng có hình ovan, trục của nó kéo dài theo phương Đông Bắc.
Ngăn cách giữa võng trung tâm và võng Nam Cửu Long là gờ nâng
trung tâm. Gờ nâng được nâng cao với độ sâu của móng khoảng 3 km. Gờ
nâng chạy theo phương Đông Bắc _ Tây Nam, đặc trưng cho phương phát
triển chung của bình đồ cấu trúc bồn trũng. Tại đây tập trung các mỏ dầu
quan trọng như Bạch Hổ, Rồng, Sói…
Nhìn chung bồn trũng Cửu Long là một cấu trúc sụt võng không đối
xứng có phương Đông Bắc _ Tây Nam. Sườn Tây Bắc của bồn trũng có độ
dốc thoải(25
0
_ 30
0
), đòa hình của móng có dạng bậc thang và thoải dần về
phía lục đòa. Sườn Đông Nam của võng sụt có độ dốc lớn 40
0
_ 50
0
, đá móng
được nhô cao đến độ sâu 1500 m.
I. CÁC HỆ THỐNG ĐỨT GÃY
Ởû bồn trũng Cửu Long tồn tại các hệ thống đứt gãy:
Ởû vùng phía Tây Nam bồn trũng, kể cả cấu tạo Rồng, hệ thống đứt gãy
chủ yếu theo hướng Đông Tây và Á Đông Tây.
Trang9
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
Ở vùng trung tâm bồn trũng hệ thống đứt gãy theo hướng Bắc Đông
Bắc _Nam Tây Nam với góc lệch 20
0
về phía đông so với cực Bắc.
Ởû vùng Đông Bắc bồn trũng : hệ thống đứt gãy theo hướng Đông Bắc _
Tây Nam.
Ngoài ra còn có hệ thống đứt gãy theo hướng Tây Bắc _Đông Nam và
Bắc Nam.
1.Hệ thống đứt gãy theo hướng Đông Bắc _Tây Nam
_ Phân bố tập trung ở lô 15 và đới nâng Rồng _ Bạch Hổ, ở rìa Nam và
Đông Nam của bồn trũng.
_Trong thời kì của loạt E biên độ dòch chuyển đứng của chúng thay đổi
trong khoảng 200 _ 1000 m, cá biệt có đứt gãy ở rìa Nam và Đông Nam bồn
trũng biên độ đứt gãy đạt tới 2000m.
_Trong thời kì của loạt D biên độ đứt gãy có tăng đôi chút, phổ biến từ
600 _ 800 m, có nơi đạt đến 1600m.
_Trong thời kì của loạt C biên độ đứt gãy giảm xuống rõ rệt trong
khoảng 100 _ 200 m.
2.Hệ thống đứt gãy theo hướng Đông Tây và Á Đông Tây
_Phát triển ở khu vực lô 16, 17 vùng các cấu tạo Tam Đảo, Bà Đen, Ba
Vì và một số phân bố ở phía Nam cấu tạo Cửu Long và cấu tạo 15G.
_Trong thời kì loạt E biên độ đứt gãy đạt từ 1000 _ 1200 m (phía Nam
cấu tạo Cửu Long) phổ biến là các đứt gãy có biên độ từ 200 _ 400 m.
_Trong thời kì loạt D biên độ đứt gãy tăng lên đến 1600 m, đứt gãy có
biên độ phổ biến từ 400 _ 600 m.
_Trong thời kì của loạt C cũng có nhiều đứt gãy biên độ lớn đạt từ 800
_ 1000m, phổ biến từ 200 _ 400 m.
_Trong thời kì loạt R hệ thống đứt gãy giảm nhiều, chỉ còn một số biểu
hiện hoạt động của hệ này ở khu vực Bắc Bạch Hổ _ Nam Cửu Long.
Trang10
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
3.Hệ thống đứt gãy hướng Tây Bắc _ Đông Nam
_Tồn tại một số đứt gãy thuộc hệ thống này ở lô 15 với biên độ trung
bình.
_Trong thời kì của loạt E biên độ từ 200 _ 400m
_Trong thời kì của loạt D biên độ từ 400 _ 800m
_Trong thời kì loạt C ở phần nhô không có sự phát triển của đứt gãy.
4.Hệ thống đứt gãy theo hướng Bắc Nam
_Tồn tại một ít ở lô 15, phía Đông đới nâng Bạch Hổ. Biên độ của các
đứt gãy khoảng vài trăm m, chiều dài không vượt quá 10 km.
5.Hệ thống đứt gãy đồng trầm tích
_Các đứt gãy thuộc hệ thống này phát triển xuyên từ E lên trên, càng
lên trên số lượng đứt gãy đồng trầm tích càng giảm dần: Tầng E có 55_60 đứt
gãy thì đến tần R chỉ có 5 đứt gãy, trong đó đứt gãy đồng trầm tích trong loạt
E là 15, giữa E với D là 15 và trong D là 15. Chiều dài của các đứt gãy này là
4 _ 5 km.
Nhìn chung số lượng đứt gãy bắt đầu phát triển từ loạt E đến loạt D thì
phát triển rất nhiều, nhưng đến C và lên trên nửa thì có số lượng đứt gãy ngày
càng giảm, vào thời kì của loạt R còn tiếp tục phát triển thêm một số đứt gãy
(15 đứt gãy) và cũng mất đi một số đứt gãy phát triển trong thời kì của loạt E.
6.Hệ thống đứt gãy đồng trầm tích
_ Đây là hệ thống đứt gãy chiếm đa số trong bồn trũng Cửu Long
(khoảng 100 đứt gãy). Chúng có chiều dài lớn với biên độ từ vài trăm cho đến
2000m. Các đứt gãy này tập trung rất nhiều ở phía Tây bồn trũng CửuLong,
số lượng ít hơn ở phía Đông và Bắc. Đa số đứt gãy sau trầm tích này hoạt
động ở phần dưới của loạt E, chiều dài thường không lớn. Các đứt gãy lớùn
nhất thuộc hệ thống này là theo hướng Đông Tây, chúng chủ yếu tập trung ở
phần Tây đới nâng Bạch Hổ. Các đứt gãy sau trầm tích tập trung ở hướng
Trang11
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
Đông Bắc _ Tây Nam phát triển tập trung ở lô 15 đới nâng Rồng, Bạch Hổ.
Các đứt gãy khác hướng phân bố tản mạn, chiều dài và biên độ không lớn.
Tóm lại qua nghiên cứu hoạt động của các hệ thống đứt gãy trong bồn
trũng Cửu Long thấy có những đặc điểm nổi bật sau:
Một số đứt gãy hoạt động trong thời kì của loạt E có biên độ trung bình
sau đó tắt dần trong thời kì của loạt D đến loạt C thì chính những đứt gãy này
tạo nên những hố sụt hẹp. Các trầm tích trong thời kì đầu tiên đã lấp đầy đòa
hình có sẵn này. Sau đó một số đứt gãy này hoạt động đồng trầm tích với loạt
trầm tích trẻ hơn, chủ yếu là loạt D. Làm cho biên độ của đứt gãy rất lớn,
nhiều nơi đạt đến 1200m như hệ thống đứt gãy số 1,4 trên cấu tạo Bạch Hổ
(theo kí hiệu Vietsopetro) hoặc ở Đông Bắc bồn trũng Cửu Long.
Hệ thống đứt gãy hướng Đông Bắc _ Tây Nam có thể tồn tại và phát
triển trước hệ thống đứt gãy Đông Tây.
Trong thời kì đầu của loạt E là thời kì lấp đầy đại hình sẵn có của trầm
tích. Sau đó nữa phần Đông _ Đông Bắc của bồn trũng Cửu Long (bao gồm
vòm Bắc cấu tạo Bạch Hổ) lún chìm rất nhanh để trầm đọng các trầm tích của
phần trên của loạt E (phần này không có mặt hoặc có khá mỏng ở vòm Nam
Bạch Hổ). Cuối thời kì của loạt E có vài chỗ nâng đòa phương và bóc mòn của
loạt E. Sau đó hầu như bồn trũng lún chìm tương đối mạnh hoặc do mực nước
biển dâng cao, tạo môi trường biển trong thời kì của loạt D với đặc trưng là
sét Oligocen (của loạt C). Phần Đông Bắc bồn trũng nâng lên mạnh (với độ
dày trầm tích 50m) trong khi đó phần Tây Nam bồn trũng giữa cấu tạo Bạch
Hổ, Tam Đảo, Ba Vì lún chìm tạo nên trầm tích dày hơn (1200m). Như vậy
vào cuối thời kì Oligocen tâm bồn trũng đã bò dòch chuyển về phía Tây Nam.
Trong thời kì Miocen trung và Miocen thượng bồn trũng oằn võng là chủ yếu,
sau đó toàn bồn trũng nghiêng về phía Đông tạo ra các tập trầm tích có tướng
thềm lục đòa.
Trang12
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
II. HOẠT ĐỘNG UỐN NẾP
_Các nếp uốn ở bồn trũng Cửu Long chỉ gắn với trầm tích Oligocen với
bốn cơ chế:
Nếp uốn gắn với đứt gãy căng giãn được phát triển ở cánh sụt của các
đứt gãy chính và được thấy ở phía Nam mỏ Rạng Đông, rìa Tây Bắc của bồn
trũng. Chúng thường liên quan đến móng và thuận lợi cho việc phát triển các
nứt nẻ phá hủy theo kiểu phá hủy trên cánh treo của đứt gãy.
Các nếp uốn nén ép _ cấu tạo hình hoa được thành tạo vào cuối
Oligocen và chỉ được phát hiện trong các đòa hào chính. Các cấu tạo Gió
Đông, Sông Ba là những ví dụ điển hình. Các nếp uốn này phân bố ở trong
hoặc gần với vùng tâm bồn trũng nơi mà móng trầm tích luôn chìm sâu.
Phủ chồm của trầm tích Oligocen lên trên các khối cao móng cổ là đặc
điểm phổ biến nhất ở bồn trũng Cửu Long, các cấu tạo Bạch Hổ, Rồng, Rạng
Đông, Ruby thuộc kiểu này.
Các nếp lồi gắn với nghòch đảo trầm tích sẽ có thể được tìm thấy nếu
căn cứ vào lòch sử kiến tạo và sự có mặt của các cấu tạo hình hoa.
III. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN KIẾN TẠO(hình 3)
_Thềm lục đòa Việt Nam và vùng kế cận hợp thành đơn vò cấu trúc có
kiểu vỏ lục đòa (mảng Kontum _ Bomeo) được gắn kết từ cuối Mesozoi-đầu
Đệ Tam cùng với sự mở rộng của “ biển rìa “. Biển Đông có kiểu vỏ chuyển
tiếp đại dương, tạo thành khung kiến tạo chung của Đông Nam Á.
Bồn trũng Cửu Long nằm ở rìa Đông Nam của mảng Đông Nam Á :Về
phía Nam, mảng Đông Nam Á được phân tách với mảng Sunda qua hệ đứt
gãy trượt bằng lớn-đứt gãy three Pagoda và đới cắt ép Natuna. Về phía Đông
Bắc, nó được phân tách với mảng Trung Quốc qua hệ thống đứt gãy Sông
Hồng.Về phía Đông, nó được phân tách với biển Đông cổ bởi hệ đứt gãy
Đông Việt Nam và Tây Baram. Nhiều vi mảng phức tạp hơn hình thành do
Trang13
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
mảng Đông Nam Á bò đẩy trụt về phía Đông Nam trong quá trình va chạm
giữa mảng n Độ với mảng u-Á vào Đệ Tam sớm.
Theo Nguyễn Tiến Long và Sung Jin Chang, lòch sử kiến tạo từ Jura-
Hiện tại chia làm 3 giai đoạn:
 Giai đoạn hút chìm từ Jura muộn_ Kreta sớm
 Giai đoạn chuyển tiếp từ Kreta muộn _ Paleoxen.
 Giai đoạn căng giãn khu vực từ Eoxen tới hiện tại.
A.GIAI ĐOẠN HÚT CHÌM TỪ JURA MUỘN – KRETA SỚM
Giai đoạn này được đánh dấu bằng xâm nhập chủ yếu diorit th6c
phức hệ Đònh Quán trong miền vỏ lục đòa Paleo-Việt Nam. Thành phần hoá
học vôi kiềm của các xâm nhập này là điển hình cho đới hút chìm có liên
quan đến các quá trình nóng chảy vỏ.Với sự phân bố rộng khắp các đá phun
trào hệ tầng Bảo Lộc, vùng đèo Bảo Lộc là biểu hiện bề mặt đặc trưng của
đới hút chìm. Hệ thống cấu trúc này có thể đối sánh với hệ thống Andes Nam
Mỹ hiện tại thuộc kiểu hút chìm andean (Taylor và Hayes, 1983; Sanders
1999).Vành đai núi cực lớn được hình thành chủ yếu từ các phức hệ xâm nhập
và phun trào hoạt động trong thời kì lâu dài. Các cấu trúc nén ép thường được
phát triển cùng đứt gãy, khe nứt (hệ thống đứt gãy hướng Bắc-Nam và Đông
–Tây cũng có thể được thành tạo trong pha này).
B.GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẾP KERTA MUỘN-PALEOXEN.
B.1Kreta muộn
Các đá Granit, Microgranit và Granit poocphia giàu Kali của phức hệ
Đèo Cả, granit 2 Mica của phức hệ Cà Ná cùng với các đai mạch, phun trào
Riolit của hệ tầng Đơn Dương và hệ tầng Nha Trang đã phát triển rộng rãi.
Hoạt động macma thành phần kiềm chiếm ưu thế, cùng với sự giảm đáng kể
hoạt động macma vôi-kiềm chứng tỏ hoạt động hút chìm đã ngừng. Vào cuối
pha này, do vỏ trái đất có sức bền kém nên phần trung tâm đai núi bắt đầu sụt
Trang14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét