thực hiện các xúc tiến để mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng cho
hàng hóa của họ hơn cho hàng hóa của những người cung cấp khác , mặt khác người
bán lẻ cũng hoạt động như các đại lý mua cho các khách hàng của họ. Trong vai trò
này, người bán lẻ hiểu nhu cầu của khách hàng , tìm kiếm và mua chỉ từ những
người cung cấp có loại hàng hóa thỏa mãn nhu cầu tốt nhất của khách hàng .
Thực tế là tất cả những người bán lẻ đều thực hiện đầy đủ cả 2 vai trò trên
,nhưng mỗi vai trò đang được thay đổi. Cùng với số lượng những người bán lẻ theo
định hướng marketing ngày càng tăng, vấn đề dự trữ và bán hàng hóa như thế nào
ngày càng không phải do những người cung cấp quyết định mà là từ sự phân tích thị
trường mục tiêu của chính bản thân người bán lẻ . nhiều nhà bán lẻ bây giời đủ lớn
để gây sức ép đối với người cung cấp , chỉ mua và bán những hàng hóa phù hợp với
nhu cầu của khách hàng của họ. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các trung gian
thương mại trên thị trường đang có sự thay đổi lớn . Phân tích được xu thế này sẽ
giúp doanh nghiệp biết cần phải tổ chức và quản lý các kênh marketing theo những
phương thức và giải pháp nào cho hiệu quả?
Cũng tùy từng mặt hàng mà siêu thị là trung gian ở các kênh phân phối dài
ngắn khác nhau. Có hàng hóa siêu thị là trung gian trực tiếp trong kênh phân phối ,
lúc đó các hàng hóa này thường là những mặt hàng công nghiệp, mặt hàng tiêu dùng
có giá trị cao, các mặt hàng hải sản tươi sống, rau quả. Siêu thị là trung gian gián
tiếp đối với những mặt hàng có giá trị nhỏ, đồ gia dụng
2. Đặc điểm của khách hàng.
Khách hàng là những người mua sắm và tiêu dùng những sản phẩm và dịch
vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu và ước muốn cá nhân. Họ là người tiêu dùng sản phẩm
do quá trình sản xuất tạo ra. Theo các nhà kinh tế học, việc tiêu dùng của họ một
mặt được xem như là việc sử dụng hoặc huỷ bỏ một tài sản kinh tế, mặt khác cũng
là cách họ tự thể hiện mình. Khách hàng có thể là một cá nhân, một gia đình, hoặc
một nhóm người . Để quyết định mua sắm một sản phẩm, người tiêu dùng ( khách
hàng ) còn chịu tác động của các yếu tố khác nhau trong đó có bốn yếu tố chính là:
những nhân tố văn hóa, những nhân tố mang tính chất xã hội, những nhân tố mang
tính chất cá nhân và những nhân tố tâm lý. Phần lớn các nhân tố này không chịu sự
Trang 5
kiểm soát của marketing. Nhiệm vụ của marketing là phải nghiên cứu và theo dõi
chúng để hiểu biết về đặc tính trong hành vi của người tiêu dùng.
Trên thực tế khách hàng vào siêu thị có thể có nhiều kiểu.
Họ có thể là những người thường xuyên có nhu cầu mua sắm trong các siêu
thị . Đây là những khách hàng quá bận rộn với công việc không có đủ thời gian đi
lại nhiều nơi để mua nhiều thứ, nên họ vào siêu thị để có thể nhanh chóng tìm được
đủ những thứ hàng hóa mình cần. Những người này đặc biệt có thú đi siêu thị mua
hàng một phần họ là những người có kinh tế khá giả. Hay là những khách hàng luôn
tìm thấy sự thoải mái , thư giãn lúc vào đây khi mà được phục vụ chu đáo mà
không bị căng thẳng do không phải mặc cả từng món hàng như ngoài chợ, không bị
quá đắt, mua nhầm. Cũng có thể là những khách hàng luôn tin tưởng vào hàng hóa
trong siêu thị được đảm bảo chất lượng và độ an toàn vệ sinh hơn hàng ngoài chợ,
đặc biệt là thực phẩm tươi sống như cá biển, thịt…Điều này cũng đã giúp khách
hàng là nam giới, người mà đi chợ là một trong những đối tượng đầu tiên để những
người bán ở chợ thu lợi về chất lượng sản phẩm , giá cả, những thông tin họ không
được cập nhật do không phải là khách hàng thường xuyên nắm vững những điều đó
mà ngày cáng có nhiều doanh nghiệp, tổ chức muốn kinh doanh siêu thị , bỏ vốn
vào lĩnh vực này ,rồi tìm kiếm nguồn hàng từ các nhà cung ứng trong, ngoài nứơc.
cố gắng trưng bày tất cả các mặt hàng cần thiết từ bách hóa gia dụng đến thực phẩm
tươi , khô, các loại đồ hộp, thức uống đóng chai…Bên cạnh đó siêu thị trang bị giỏ
hàng, xe đẩy hàng, xe hàng tạo sự thuận tiện cho những khách hàng mua nhiều hàng
những người đi cùng trẻ em và cũng khá phù hợp với những khách hàng là nam
giới, khi họ tránh được việc cảm thấy kỳ cục khi mà sách giỏ hàng ra chợ, thay vào
đó họ chỉ việc tự do đẩy xe lựa chọn hàng hóa. Kinh tế ngày càng phát triển thì loại
khách hàng này ngày càng nhiều do mọi người đầu tư nhiều thời gian hơn cho công
việc cộng với tư tưởng về vai trò người phụ nữ trong gia đình đã khác, nam giới bây
giờ cũng có thể làm công việc đi mua sắm hàng ngày.
Kiểu khách hàng thứ 2 là những khách hàng đi vào siêu thị chưa chắc sẽ
mua hàng hay có mua thì thỉnh thoảng mới mua. Họ thuộc tốp khách mua ít xem
nhiều, lượng này chiếm khá nhiều trong siêu thị. Một phần do tính tò mò của họ vì
loại hinh kinh doanh hiện đại, mới lạ ( ta cũng có thể thấy điều này khi đế Tràng
Trang 6
Tiền Plara) phần khác có thể họ vào để tham khảo bởi họ là những người rất nhạy
cảm với giá. Giá cả trong siêu thị vì một số lý do nào đó mà cao hơn bên ngoài và
như vậy hàng hóa trong siêu thị trở thành hình mẫu cho họ. Biết được mức giá rồi
ra ngoài họ chỉ cần trả giá thấp hơn một chút. đầy là điểm khác biệt giữa các loại
hình kinh doanh như chợ, cửa hàng… Ở ngoài họ có thể mặc cả gía cò kè bớt một
thêm hai, mua mớ rau thêm cọng hành …Mua ký thịt thì nói làm sao cho người bán
phải cân đúng mới chịu, đi từ hàng này sang hàng khác tìm món ngon nhất và mặc
cả sao cho mua được với giá thấp nhất đó mới là nghệ thuật. Điều này thì không thể
có trong siêu thị , hay họ có thể đi vào siêu thị xem hàng,mua hàng, sản phẩm mới
rồi về kể cho người khác nghe. Việc thu hút lọai khách hang này cũng được các
siêu thị chủ ý. Một số siêu thị thỉnh thoảng có những chương trình quảng bá nhằm
gây thêm sự tò mò đối với khách hàng. điều này không phải không quan trọng do
đây là khách hàng đến xem nhiều mua ít. Bởi một điều những người này có thể là
khách hàng của họ trong tương lai và đây còn là nhóm truyền tin rất quan trọng cho
siêu thị.
Một kiêu khách hàng nữa họ có thể nhận thấy là những người khách hàng
vãng lai họ thỉnh thoảng mới đến siêu thị và họ đến đây trong một hoàn cảnh nào
đó. Chẳng hạn đó là những người khách du lịch, những người đột xuất có công việc
đến thành phố hay những cặp vợ chồng mới cưới …Họ đến đây vì họ muốn an tâm
về chất lượng , không bị mua hớ trong môi trường lạ lẫm, trong một dịp quan trọng.
Đội ngũ nhân viên ở một số siêu thị có khả năng ngoại ngữ khá tốt có thể đáp ứng
được sự thỏa mãn của những khách hàng là người nước ngoài.
Qua nghiên cứu tại Hà Nội được biết rằng có tới 90% số người được hỏi cho
rằng họ thích đi siêu thị. Trong đó có tới 80 % số người từng đi siêu thị. điều đó đã
chứng tỏ siêu thị đã thu hút được người tiêu dùng ở Hà Nội, họ đế đầy vì sự tiện ích
mà siêu thị có thể đem lại cho họ, cái mà nếu thực hiện mua sắm ở ngoài họ không
bao giờ có thể tìm thấy. Tuy nhiên nếu kỳ vọng đó của họ không đạt được thì chắc
chắn họ quay về với cái “chợ làng” xưa kia .Đây cũng chính là thực tế mà gần đây
các siêu thị phải đối mặt-tình trạng mất khách, vắng khách.
Trang 7
PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING Ở CÁC SIÊU THỊ
TRONG THỜI GIAN QUA
I. NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG
Các siêu thị chưa xác định được thị trường mục tiêu của mình, phân khúc thị
trường chưa được hợp lý theo khu vực địa lý. Phân khúc thị trường theo yếu tố địa lí
đòi hỏi phải chia thành những đơn vị địa lý khác nhau.
Các siêu thị có thể quyết định hoạt động trong một vài vùng địa lí hay hoạt
động trong tất cả các vùng, nhưng cần chú ý đến những sự khác biệt về các nhu cầu
của từng vùng địa lí.
Phân khúc thị trường theo yếu tố nhân khẩu học, theo yếu tố tâm lý, theo
hành vi cũng là điều quan trọng. Trên cơ sở những biến nhân khẩu học như tuổi tác
giới tính, qui mô gia đình, chu kỳ sống của gia đình, thu nhập , nghề nghiệp…Các
biến nhân khẩu học là cơ phổ biến để phân biệt các nhóm khách hàng .Lý do thư
nhát là những mong muốn sơ thích và muuc dộ sử dung của người tiêu dùng thường
gắn bó chặt chẽ với biến nhan khẩu học .Thứ hai là các biến nhân khấu học dễ đo
lường hơn hầu hết các biến khác.Khi đánh giá các khúc thị trường khác nhau ,siêu
thị phải xem xét ba yếu tố cụ thể là quy mô và mức tăng trưởng của khúc thị
trường ,mức độ hấp dẫn về cơ cấu của khúc thị trường,những mục tiêu và nguồn tài
nguyên của siêu thị
Câu hỏi đầu tiên là, khúc thị trường tiềm ẩn có nhưỡng đặc điểm về quy mô
và mức tăng trưởng vừa sức không .Siêu thị phải biết những khúc thị trường phù
hợp với từng đối tượng khác hàng ,một khúc thị trường có thể có quy mô và mức
tăng trưởng như mong muốn nhưng lại có thể thiếu tiềm năng sinh lời .Mọt khúc thị
trường sẽ không hấp dẫn ,nếu nó có nhiều đôi thủ cạnh tranh mạnh hay là hay tấn
công .
Siêu thị có thể áp dụng ba cách tiếp cận thị trường ,xác định thị trường mục
tiêu là quyết định phân biệt các nhóm khác nhau tạo nên thị trường và phát triển
những sản phẩm và mảketing mix tương ưng cho từng thị trường mục tiêu .Ngày
nay người bán đang bỏ dần marketing đại trà và tạo đạc điểm khác biệt cho sản
phẩm và chuyển sang marketing theo mục tiêu .Phan khúc thị trường là việc phân
Trang 8
chia thị trường thành những nhóm người mua khác nhau có những nhu cầu hay
phản ứng khác nhau.Người làm marketing dùng thử các biến khác nhau để xem biến
nào bộc lộ những cơ hội tốt nhất của khúc thị trường .Đối với mỗi khúc thị trường
phải xác định được những đạc điểm riêng biệt của nhóm khách hàng đó . Hiệu quả
của phân khúc thị trường phụ thuộc vòa chỗ các khúc thị trường có đo lường được,
có cơ bản ,có thể tiếp cận, có thể phân biệt và có thể hoạt động ở đó hay không. Siêu
thị có thể bỏ những điểm khác biệt cảu các khúc thị trường ,phát triển nhữnh
sản phẩm khác nhau cho một khúc thị trường,hay theo đuổi một khúc thị trường
mới.Khi lựa chọn các khúc thị trường mục tiêu người làm marketing cần xem xét
các mối quan hệ qua lại giữa các khúc thị trường và các kế hoạch xâm chiếm những
thị trường tiềm ẩn
II. LỰA CHỌN VỊ THẾ ĐỊA ĐIỂM CỦA SIÊU THỊ
Hình ảnh siêu thị được khắc họa trong tâm trí khách hàng khong chỉ do dạc
điểm tính chất của sản phẩm và hoạt động marketing của siêu thị tạo dựng mà còn
do tương quan so sánh giữa các siêu thị cạnh tranh .Vì vậy công viêc của một chiến
lược định vị không chỉ dừng lai ở việc tạo dựng một hình ảnh mà còn phải lựa chọn
cho hình ảnh đó mọt vị thế trên thị trường mục tiêu
Vị thế của một siêu thị trên thị trường ở tầm cỡ nào đó là do khách hàng
nhìn nhận và hình thành thái độ của khách hàng vói siêu thị ra sao. Mọt vị thế cụ thể
được chọn ,trực tiêp liên quan đến việc các siêu thị lựa chọn chiến lược cạnh tranh
trực tiếp hay chiếm lĩnh những vùng thị trường mà đối thủ cạnh tranh chưa “sở
hữu” .Một vị cụ thể được lựa chọn chỉ trở thành hiện thực nếu nó đươc hậu thuẫn
bởi đặc tính nổi trội mà siêu thị có được sự khác biệt so với cac siêu thị khác và
các hoạt đọng marketing mà khách hàng nhận biết được khi họ đã từng đến siêu
thị .Trên thực tế thì ta thấy chỉ một số siêuthị Hà Nội làm được việc này nhưng nó
vãn còn nhiều thiếu sót như siêu thị Tràng Tiền Plaza sản phẩm chủ yếu là chát
lượng cao như Gucci, adidas, Pierre…
Hầu như các siêu thị ở Hà Nội chỉ có ở trung tâm thành phố mà các khu vực
gần ngoại thành và ngoại thành Hà Nội không có siêu thị nếu có chỉ là nhữnh siêu
thị nhỏ ,phải chăng đay cũng là một lý do dẫn đến lượng khách hàng đến siêu thị
vẫn chưa đươc như mong muốn .Bởi một số khách hàng muốn đi siêu thị nhưng do
Trang 9
siêu thị quá xa với họ hoạc phương tiện để đi không được thuận tiện.Để khắc phục
điều này siêu thị phải phân khúc thị trường được xác định theo khu vực địa lý và
nên giới hạn trong an kính phục vụ hợp lý khoảng 3-5 km.Với khoảng cách
này,người dân chỉ cần khoảng15-20 phút đi bộ hoặc 10 phút đi xe máy là có thể tới
siêu thị mua sắm .Theo quy hoạch chumg của thành phố ,cứ đến khoảnh ba đến năm
phường nên có một siêu thị quy mô vừa (1000-2000 m
2
).Ở thị trường mục tiêu đã
xác định theo khu vực đia lý, siêu thị phục vụ tát cả các đói tượng khách hàng ,mà
không biệt tuổi tác …Vì hàng hóa bán ra của siêu thị là hàng tiêu dùng thông dụng
hàng ngày cần thiết cho mọi đối tượng .Các siêu thị cần căn cứ vào thực lực của
đơn vị mình để hoạch định chiến lược và chính sách kinh doanh phù hợp với điều
kiện thực tế ở thủ đô Hà Nội
Trước hết mỗi đơn vị cần xác định quy mô siêu thị phù hợp trong giai đoạn
phát triển ngày nay ,mô hình chung cho các siêu thị ở thành phố là :quy mô vừa phải
,hàng hóa kinh doanh là hàng hóa thông thường ,hàng hóa phải phonh phú ,giá cả
hợp lý
Tuy các siêu thị ở Hà Nội chưa chọn được vị thế địa điểm của mình song các
siêu thị ở thành phố Hồ Chí Minh mỗi siêu thị đều chọn cho mình vị trí khá chiến
lược. Siêu thị Phú Lâm ở ngay vòng xoay Phú Lâm quận 6 là siêu thị đông dân,
trục giao thông quan trọng “đón nhận khách hàng” từ đồng bằng Sông Cử Long
,trung tâm thành phố , khu vực Chợ Lớn, vùng ngoại thành Bình Chánh, siêu thị Sài
Gòn trên đường Ba Tháng hai huyết mạch, cửa ngõ giao thông trọng giữ Miền
Trung , phía Bắc với miền Tây Nam Bộ. Siêu thị Bình Dân nằm trên đường Quang
Trung, quân Gò Vấp , là khu vực mà cho đến nay chưa có hệ thống siêu thị tầm cỡ
nào có mặt nên có lẽ sẽ dễ dàng tạo chỗ đứng cho riêng mình.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG MARKETING.
1. Sản phẩm.
Một số siêu thị chưa có sự đảm bảo nguồn gốc hàng hóa :
Không ít người cho rằng mua hàng hóa trong siêu thị không chỉ được thụ
hưởng , tha hồ lựa chọn , mẫu mã phong phú , chất lượng đảm bảo mà còn được
tham gia các chương trình khuyến mãi…Thế nhưng xung quanh chuyện đi mua
sắm, thì hàng hóa tại siêu thị cũng như chất lượng hàng hóa ở đây vẫn còn tồn tại
Trang 10
nhiều điều bất ổn. Trong tâm trí hầu hết khách hàng khi đến với siêu thị luôn nghĩ
rằng đã là hàng hóa trong siêu thị thì chất lượng luôn được đảm bảo.
Trên nguyên tắc là như vậy, người mua ở đây luôn có cảm giác là mua được
hàng thật của những nhãn hiệu mình ưa thích , nhưng đó chỉ là cảm giác nên để
kiểm tra xem cảm giác đó có đúng không thì chỉ có cách mua thử và họ thấy thất
vọng khi mà tại một số siêu thị Hà Nội vẫn giải giác bắt gặp hàng giả , hàng nhái
chất lượng kém không rõ xuất xứ …
Sản phẩm có thể hỏng trong quá trình từ khâu sản xuất đến tay người tiêu
dùng, tình trạng này khá nhiều . Đặc biệt hàng thực phẩm công nghệ ( qua gia công
đóng gói, đồ hộp…) chất lượng không đảm bảo quá hạn sử dụng nhưng lại chậm
kiểm tra , loại bỏ nhất là đối với hàng ngoại nhập về từ nhiều nguồn khác nhau chưa
kiểm soát được .
Theo văn bản quy định về chất lượng hàng hóa nếu hàng hóa bán tại các cửa
hàng giới thiệu sản phẩm hoặc tại những địa điểm mà đơn vị sản xuất thuê thì chất
lượng hàng hóa do chính đơn vị đó chịu trách nhiệm. Trong trường hợp các cửa
hàng , đơn vị kinh doanh mua hàng bán để hưởng lãi thì chất lượng hàng hóa sẽ do
đơn vị kinh doanh đó chịu trách nhiệm. Còn chất lượng hàng hóa trong siêu thị thì
sao ? Tại các siêu thị Hà Nội có tới 60% hàng hóa trong siêu thị được nhập từ
chính nhà sản xuất còn 40% hàng hóa được nhập từ các đơn vị phân phối sản
phẩm . sở dĩ như vậy là vì sẽ tạo thuận lợi cho siêu thị trong việc giải quyết những
hàng hóa không đạt tiêu chuẩn về chất lượng nhất là khi phải trả lại hàng hay có
những thắc mắc , phát hiện mới liên quan đến chất lượng hàng hóa , siêu thị trực
tiếp phản ánh với nhà sản xuất sẽ nhanh chóng có câu trả lời hơn, tránh sự tồn đọng
hàng hóa quá lâu, giảm rủi ro và tốn kém nếu so với việc qua trung gian thứ ba. Và
theo như lời ban lãnh đạo các siêu thị thì những hàng hóa được bày bán trong siêu
thị của họ đều có thể đổi lại , trả lại cho đơn vị cung cấp nếu như chất lượng hàng
hóa không đảm bảo. Nhưng trên thực tế mọi việc không hoàn toàn là tốt cả.
Một minh chứng cụ thể tại Tràng Tiền Plaza hàng hóa chủ yếu là hàng hiệu,
được ví là siêu thị của người giàu không phải không có chuyện hàng giả, hàng kém
chất lượng. đã có một quầy hàng bị đình chỉ kinh doanh do phát hiện thấy hàng giả
mang nhãn hiệu Lusis Vuiton, một hãng chuyên sản xuất đồ da nổi tiếng của Pháp .
Trang 11
trong tháng 3 năm 2002 chi cục quản lý thị trường Hà Nội đã phối hợp với các cơ
quan liên ngành kiểm tra và phát hiện một doanh nghiệp tại đây bán kính đen đeo
mắt giả nhãn hiệu của hãng kính thời trang nổi tiếng Vercase . Lô hàng đã bị thu và
chủ hàng cũng bị phạt hành chính . Tại siêu thị Tower, ban quản lý thị trường cũng
phát hiện những vi phạm như kẹo chocolate cao cấp không có nhãn hiệu . trong siêu
thị Todimax, số 5 Điện Biên Phủ, các mặt hàng như quạt điện, điện thoại cố định,
máy fax, phíc đun nước điều hòa nhiệt độ , cũng có những vi phạm về quy chế ghi
nhãn hàng hóa như chưa có đơn vị nhập khẩu . Trong đợt tổng kiểm tra về nhãn mác
hàng hóa vừa qua đã có 80% số hàng hóa được kiểm tra không tuân thủ về nhãn
mác.
Nguyên nhân của tình trạng này có thể do mặt hàng trong siêu thị quá
nhiều , nhân viên bán hàng làm việc trung bình từ 12-14 tiếng trong một ngày nên
phần lớn kiểm kê chỉ được thực hiện với các nội dung mã hàng , giá cả, số lượng mà
ít quan tâm tới hạn dùng hay môi trường ảnh hưởng tới chất lượng hàng hóa . Có thể
do khách hàng quá tin vào siêu thị luôn có hàng hóa mới hàng hóa đã qua chọn lọc
nên dẫn tới tình trạng lựa hàng không nhìn vào hạn sử dụng đến khi muốn đổi lại
nhân viên không chấp nhận. Đây là những bất cẩn từ phía người mua. Còn có
nguyên nhân từ phía nhà sản xuất , chẳng hạn các sản phẩm được đóng bao gói cẩn
thận còn hạn sử dụng nhưng có các tạp chất ( như có ruồi trong thạch đóng cốc , sữa
nổi váng bẩn, rán trong nước giải khát…)
Một thực trạng thấy nữa là chủng loại hàng hóa chưa được phong phú đa
dạng. Hầu hết tâm lý các khách hàng họ đều muốn sản phẩm phong phú để có
quyền lựa chọn , họ lựa chọn kiểu dáng , hình thức, màu sắc, chất lượng của sản
phẩm để có quyền lựa chọn sản phẩm phù hợp với túi tiền và theo ý thích của
mình. Nhưng ở trong siêu thị chưa đáp ứng được nhu cầu của họ , khiến họ vẫn
phải ra chợ đến các cửa hàng để mua hàng .
2. Giá cả.
Giá được ấn định như thế nào ? . Từ xưa đến nay giá thường được người
mua và người bán ấn định qua thương lượng với nhau. Người bán thường chào giá
cao hơn mức mà họ hy vọng nhận được , còn người mua thì trả giá thấp hơn và họ
có ý định chi. Sau khi mặc cả họ sẽ đi đến một giá có thể chấp nhận được. Việc ấn
Trang 12
định một giá cho tất cả những người mua là một ý tưởng tương đối hiện đại. Nó nảy
sinh từ việc phát triển bán lẻ trên qui mô lớn vào cuối thế kỷ 19 .W.woolworth,
Tiffanyco, Jonh wanamaker và một số người khác đã công bố “ chính sách dứt khoát
một giá”bởi vì họ kinh doanh quá nhiều mặt hàng và cai quản quá nhiều nhân viên.
Xưa nay giá đã tác động như yếu tố quyết định việc lựa chọn của người mua.
Và tình hình vẫn đúng là như vậy đối với những nước nghèo, những nhóm người
nghèo và đối với sản phẩm hàng hóa . Tuy nhiên trong những thập kỷ gần đây yếu
tố giá cả đã trở lên tương đối quan trọng trong hành vi lựa chọn của người mua. Dù
vậy giá cả vẫn là một trong những yếu tố quan trọng thứ nhất quyết định thị phần
của doanh nghiệp, công ty và khả năng sinh lời của nó, đúng vậy việc định giá có
liên quan rất nhiềi đến thị phần và doanh thu của siêu thị . Nhưng không vì thế mà
ta đưa ra một mức giá khá cao, hay cao hơn nhiều so với tư thương bên ngoài bảo
trợ . Tại các siêu thị ở Hà Nội giá cả tuy so với trước đây có giảm xuống ở mức
chấp nhận được nhưng vẫn cao hơn so với ở chợ và tư thương bên ngoài từ 5-10%.
Chẳng hạn hàng hóa tại siêu thị Tràng Tiền Plaza chủ yếu là hàng hiệu như Gucci,
Adidas… Và giá cả đương nhiên thuộc loại hiệu luôn, giá ở đây thường đắt hơn
hàng cùng loại ở bên ngoài từ 50.000-100.000 đ trở lên. Người tiêu dùng đặt cho cái
tên siêu thị của người giàu cũng đúng .
Nguyên nhân của tình trạng này có thể do mức thuế 10% , các chi phí như
thuê mặt bằng thuê nhân công, các chi phí khác đã làm cho hàng hóa trong siêu thị
mặc dù giá mua đầu vào nhờ số lượng nhiều cũng không đủ sức cạnh tranh với các
tiềm tạp hóa , các sạp chợ nơi không phải trả nhân công , lấy công làm lãi họ sẵn
sàng bán với giá vừa đủ có lời.
Cách định giá ở nhiều siêu thị chưa linh hoạt theo biến động của thị trường
và sự thay đổi nhu cầu khách hàng. Đây là do siêu thị chưa nghiên cứu kỹ thị trường
hoặc thực hiện nghiên cứu nhưng không thường xuyên nên không nắm bắt kịp kỳ
vọng của khách hàng về giá cả.
Có nhiều đặc tính sản phẩm ảnh hưởng đến giá như tính đồng nhất, tính dị
biệt, tính thời vụ, tính dễ hỏng…Ví dụ đối với những sản phẩm có tính dễ
hỏng(thực phẩm hàng nông sản…), trong nhiều trường hợp, giá bán được xác định
theo chất lượng chứ không phải chi phí bỏ ra. Đồng thời nó phải được điều chỉnh
Trang 13
thường xuyên cho phù hợp với chất lượng của sản phẩm bị biến đổi nhanh chóng.
Với những sản phẩm đồng nhất, dễ dàng thay thế trong sử dụng, rất khó đặt mức giá
khác biệt. Ngược lại, những sản phẩm có sự khác biệt lớn, người tiêu dùng không
thích sử dụng thay thế hoặc không tìm được hàng hóa thay thế, thường có quyền đặt
mức giá cao và có mức chênh lệch lớn so với chi phí bỏ ra.
Ngoài ra nhận thức của khách hàng về giá trong nhiều trường hợp chịu ảnh
hưởng của yếu tâm lý. Đặc điểm này thường rất phổ biến ở các hàng hóa phi vật
chất ( dịch vụ ) hoặc những hàng hóa mà sự hiểu biết của khách hàng về sản phẩm ,
về giá cả của đối thủ cạnh tranh còn hạn chế.
Mọi sự thay đổi về giá đều có thể tác động đến khách hàng, những người
phân phối và những người cung ứng…ở đây ta xem xét đến những phản ứng của
khách hàng, khách hàng không phải lúc nào cũng hiểu biết đúng việc thay đổi về
giá. Việc giảm giá có thể được hiểu theo những cách khác nhau: mặt hàng này sắp
xửa được thay thế một mẫu mã mới, mặt hàng bán chậm và có thể không còn được
bán trong tương lai, giá còn có thể giảm xuống nữa hay chất lượng đã bị giảm.
Việc tăng giá có thể gây khó khăn cho việc tiêu thụ nhưng cũng có thể mang
một số ý nghĩa tích cực đối với khách hàng. Khách hàng nhạy cảm về giá nhất đối
với những sản phẩm đắt tiền và hay được mua thường xuyên, trong khi họ lại ít
nhận thấy giá tăng lên đối với những mặt hàng rẻ tiền mà họ mua thường xuyên.
Ngoài ra một số người ít quan tâm hơn đế giá của sản phẩm , mà họ chú trọng
nhiều hơn cho việc tiếp nhận, khai thác và phục vụ sản phẩm đó trong suốt đời nó.
Vì vậy các siêu thị cần phải tìm kiếm những nguyên tắc liên quan ứng xử về giá cho
nó được linh hoạt.
Một tình trạng khác là không niêm yết giá vì bỏ sót hoặc hàng hóa không đủ
tiêu chuẩn quy định. Chúng đã khiến cho khách hàng, nhất là những khách hàng
nhạy cảm về giá ngày một xa lánh siêu thị trở về với mô hình chợ, cửa hàng . Có
khách hàng tới siêu thị khi đi ra chỉ mua được một hoặc hai gói bimbim. Khách
hàng vào xem chiếm tới 50% lượng khách để tham khảo giá, thỏa mãn sự tò mò rồi
ra ngoài mua.
3. Đội ngũ nhân viên của siêu thị .
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét