Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

54 Hoàn thiện hoạt động marketing của Công ty cổ phần Tân Đô

Chuyên đề tốt nghiệp
“Các công ty đang phải chạy đua với nhau trên một tuyến đường với những biển báo và luật
lệ luôn thay đổi, không có tuyến đích, không có chiến thắng vĩnh cửu. Họ buộc phải không
ngừng chạy đua và hy vọng là mình đang chạy theo đúng hướng mà công chúng mong
muốn”.
Marketing là một bộ môn khoa học nghiên cứu về các hoạt động kinh doanh có liên
quan trực tiếp đến dòng chuyển vận của hàng hoá - dịch vụ từ nơi sản xuất tới người tiêu
dùng, nhằm tìm ra các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ, duy trì và phát triển thị trường.
Marketing còn áp dụng trong nhiều lĩnh vực xã hội. Philip Kotler đã viết: “ Trong thế giới
phức tạp ngày nay, tất cả chúng ta đều phải am hiểu marketing. Khi bán một chiếc máy bay,
tìm kiếm việc làm, quyên góp tiền cho mục đích từ thiện, hay tuyên truyền một ý tưởng,
chúng ta đã làm marketing Kiến thức về marketing cho phép xử trí khôn ngoan hơn ở
cương vị người tiêu dùng, dù là mua kem đánh răng, một con gà đông lạnh, một chiếc máy
vi tính hay một chiếc ô tô Marketing đụng chạm đến lợi ích của mỗi người chúng ta trong
suốt cả cuộc đời”
Marketing áp đặt rất mạnh mẽ đối với lòng tin và kiểu cách sống của người tiêu
dùng. Vì thế, những người kinh doanh tìm cách để làm thoả mãn nhu cầu mong muốn của
người tiêu dùng, tạo ra những sản phẩm và dịch vụ với mức giá cả mà người tiêu dùng có
thể thanh toán được.
Phạm vi sử dụng marketing rất rộng rãi, marketing liên quan đến nhiều lĩnh vực như:
hình thành giá cả, dự trữ, bao bì đóng gói, xây dựng nhãn hiệu, hoạt động và quản lý bán
hàng, tín dụng, vận chuyển, trách nhiệm xã hội, lựa chọn nơi bán lẻ, phân tích người tiêu
dùng, hoạt động bán sỉ, bán lẻ, đánh giá và lựa chọn người mua hàng công nghiệp, quảng
cáo, mối quan hệ xã hội, nghiên cứu marketing, hoạch định và bảo hành sản phẩm.
Marketing phản ánh một chức năng cơ bản của kinh doanh giống như chức năng sản
xuất, tài chính, quản trị nhân lực Những chức năng ngày đều là những bộ phận tất yếu mặt
tổ chức của một công ty. Nhiệm vụ cơ bản của Marketing là tạo ra khách hàng cho doanh
nghiệp, giống như sản xuất tạo ra sản phẩm.
Từ đó xét về yếu tố cấu thành của nội dung, quản lý doanh nghiệp thì Marketing là
một chức năng có mối liên hệ thống nhất hữu cơ với các chức năng khác. Nó là đầu mối
quan trọng của một chơ thể quản lý thống nhất trong điều kiện của nền kinh tế thị trường.
Nếu một doanh nghiệp nào bước vào kinh doanh mà lại không thấu hiểu Marketing thì
chẳng khác nào một cơ thể sống tự tách khỏi điều kiện tồn tại.
Nguyễn Tiến Trung Lớp: Thương mại 46A
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Như vậy xét về mặt chức năng thì Marketing vừa chi phối vừ bị chi phối bởi các
chức năng khác. Nói một cách khách, khi xác định chiến lược Marketing, đề ra các mục tiêu
chiến lược, chẳng hạn như công ty quyết định vươn lên vị trí dẫn đầu về chất lượng một loại
sản phẩm nào đó, để thu hút những khách hàng có thu nhập bậc cao, khi đó để tránh rơi vào
mơ tưởng, thì công ty buộc phải cân nhắc xem vốn liếng thế nào, công nghệ kỹ thuật ra sao,
trình độ tay nghề của công nhân có đáp ứng được hay ko? Nếu như tất cả, hoặc thậm chí một
mặt nào đó không thể đáp ứng được thì dù chức năng hoạt động Marketing có tìm ra một tập
hợp khách hàng hấp dẫn nào đó thì nó cũng chở nên vô nghĩa. Chức năng Marketing của
doanh nghiệp luôn luôn chỉ cho doanh nghiệp những điều sau đây:
-Khách hàng của doanh nghiệp là ai? họ sống và mua hàng ở đâu? là nam hay nữ?
-Họ cần loại hàng hóa nào? Loại hàng hóa đó có những đặc tính gì? Bao gói ra sao?
Vì sao họ cần những đặc tính đó mà không phải là những đặc tính khác? So với hàng hóa
của đối thủ cạnh tranh, hàng hóa của công ty có những ưu thế và hạn chế gì?
-Giá hàng của công ty quy định là bao nhiêu? Tại sao giá như vậy mà ko phải là giá
khác? Nếu tăng giảm giá, thì khi nào tăng? khi nào giảm giá?
-Doanh nghiệp tự tổ chức lực lượng bán hàng hay dựa vào lực lượng khác? Nếu dựa
vào lực lượng khác thì lực lượng đó là ai? Dựa vào bao nhiêu người?
-Làm thế nào để khách hàng biết, mua và yêu thích hàng hóa của doanh nghiệp? Tại
sao lại dùng cách thức này mà không dùng cách thức khác?
-Hàng hóa của doanh nghiệp có cần dịch vụ sau khi bán ko? Loại hình nhiệm vụ nào
của doanh nghiệp có khả năng cung cấp nhất? Vì sao?
II Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Marketing
1 Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh, không thể kiểm soát.
1.1 Môi trường văn hóa xã hội
Trong hệ thống các giá trị văn hoá, các giá trị văn hoá tinh thần, văn hoá phi vật thể
có tác động mạnh mẽ và phổ biến đến hoạt động marketing thông qua rất nhiều các biến số
khác nhau, song có thể được chia thành hai nhóm:
Nhóm thứ nhất, bao gốm tập hợp các biến số như: trình độ sử dụng những cải tiến kỹ
thuật, những phát hiện khoa học trong các lĩnh vực của đời sống sản xuất xã hội, trình độ
văn hoá, khoa học kỹ thuật của những người lao động; trình độ phổ cập giáo dục, văn học
nghệ thuật trong nhân dân. Đặc điểm của những biến số này là nó không tồn tại chính
trong cái gọi là “yếu tố môi trường văn hoá” thuộc hệ thống các yếu tố của môi trường kinh
Nguyễn Tiến Trung Lớp: Thương mại 46A
6
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh của DN, mà nó được luật pháp hoá hay thể chế hoá dưới dạng những biến số của môi
trường luật pháp; môi trường khoa học, kỹ thuật và công nghệ; hoặc môi trường dân số; môi
trường nhân khẩu học.
Nhóm thứ hai, bao gốm rất nhiều biến số như: ngôn ngữ; những biểu tượng; tôn
giáo; cách sử dụng thời gian, không gian; cách quan niệm về tình bạn; tâm lý; lối sống, nếp
sống; truyền thống, tập quán, những điều cấm kỵ Thông thường trong nghiên cứu lý luận
cũng như trong hoạt động thực tiễn các biến số văn hoá thuộc nhóm thứ hai này mới chính
thức được sắp xếp và được xem xét như là những bộ phận cấu thành và tạo nên nội dung
đích thực của yếu tố “môi trường văn hoá” cho hoạt động marketing.
Ảnh hưởng trực tiếp của văn hoá lên hoạt động marketing của doanh nghiệp là tác
động lên chính hành vi của các chủ thể kinh doanh hay hành vi của các nhà hoạt động thị
trường. Những hành vi đó sẽ in dấu lên các biện pháp marketing mà họ thực hiện. Ví dụ:
những quy tắc xã giao, cách nói năng cư xử của một nền văn hoá nào đó mà các nhà hoạt
động thị trường chịu ảnh hưởng sẽ đựơc họ mang theo và sử dụng trong quá trình giao tiếp,
đàm phán, thương lượng với khách hàng. Trong trường hợp này văn hoá đã tác động hay chi
phối trực tiếp đến loại công cụ thứ tư của Marketing- công cụ xúc tiến hỗn hợp với ý nghĩa
giao tiếp, truyền thông.
So với ảnh hưởng trực tiếp, ảnh hưởng gián tiếp của văn hoá mang tính thường
xuyên hơn với diện tác động rộng hơn. Các giá trị văn hoá được truyền tải thông qua các tổ
chức như: gia đình, các tổ chức tôn giáo, tổ chức xã hội, trường học, v.v từ đó mà ảnh
hưởng đến người mua để rồi quyệt định các biện pháp marketing của người bán. Tác động
của văn hoá đến người mua không chỉ tập trung ở nhu cầu mong muốn của họ mà còn được
thể hiện qua thái độ của con người đối với bản thân mình, đối với người khác, đối với các
chủ thể tồn tại trong xã hội, đối với tự nhiên và vũ trụ Tất cả những điều đó đều có ảnh
hưởng đến các biện pháp marketing.
Văn hoá với tư cách là yếu tố của môi trường marketing ảnh hưởng toàn diện đến
hoạt động marketing của các DN, cụ thể:
- Văn hoá ảnh hưởng đến hàng loạt các vấn đề có tính chất chiến lược trong
marketing như: lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, lựa chọn thị trường mục tiêu, lựa chọn các
chiến lược marketing chung, các quyết định về nhiệm vụ mục tiêu tổng quát của DN và hoạt
động marketing.
Nguyễn Tiến Trung Lớp: Thương mại 46A
7
Chuyên đề tốt nghiệp
- Văn hoá cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các chiến thuật, các sach lược, các
biện pháp cụ thể, các thao tác, hành vi cụ thể của nhà hoạt động thị trường trong quá trình
làm marketing.
- Văn hoá hầu như ảnh hưởng một cách toàn diện đến các công cụ khác nhau của hệ
thống marketing- mix của DN trong đó đặc biệt đáng lưu ý là ảnh hưởng đến công cụ sản
phẩm, phân phối và xúc tiến hỗn hợp.
Mỗi một biến số của văn hoá có ảnh hưởng khác nhau đến quá trình hoạt động
marketing của DN. Thực tế đã cho thấy, có thể biến số này của văn hoá có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến một hoạt động nào đó của marketing, còn biến số khác lại ít có liên quan hoặc ảnh
hưởng không đáng kể. Nếu nhìn ngược lại từ phía các công cụ của marketing- mix người ta
đã đưa ra một số tổng kết về sự tác động của một số biến số văn hoá như sau:
Thứ nhất, chính sách xúc tiến hỗn hợp bị ảnh hưởng sâu sắc bởi vấn đề ngôn ngữ.
Chẳng hạn, các quảng cáo có thể cần phải thay đổi vì một chiến dịch hoặc biểu ngữ dùng
trong nền văn hoá nào có thể có ý nghĩa xấu hổ ở một nền văn hoá khác.
Thứ hai, sự chấp nhận sản phẩm bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn thái độ và giá trị.
Ví dụ, ở Việt Nam người ta thường kiêng ăn mực, ăn vịt vào đầu tháng.
Thứ ba, chính sách giá thường bị ảnh hưởng bởi các thái độ văn hoá đối với sự thay
đổi thông qua cái gọi là “giá tâm lý”. Ở một số nơi, sự thay đổi thường xem là tích cực nên
hàng thời trang mốt được đặt giá rất cao vì nó tượng trưng cho sự thay đổi. Nhưng ở nơi
khác sự thay đổi có thể đựơc xem là không tốt, một mức giá cao hơn cho sản phẩm mới
thường chỉ làm sản phẩm trở nên quá đắt cho người tiêu dùng bình thường.
Thứ tư, hệ thống phân phối thường bị ảnh hưởng bởi các chế định xã hội. Ví dụ, ở
một số quốc gia, mối liên hệ giữa người cung cấp và người mua thường dựa trên quan hệ họ
hàng bất kể là xa hay gần. Những người không phải là thành viên họ hàng sẽ bị loại khỏi các
giao dịch kinh doanh trong một số kênh phân phối nào đó.
Trong một nền văn hoá các giá trị văn hoá có tính bền vững và tính phổ cập khác
nhau và do đó ảnh hưởng không giống nhau đến hoạt động marketing của các doanh nghiệp.
Bên cạnh những giá trị văn hoá mang tính phổ cập và thống nhất thì luôn tồn tại các giá trị
văn hoá mang tính địa phương đặc thù, còn gọi là các nhánh văn hoá. Những giá trị văn hoá
phổ cập thống nhất có ảnh hưởng rộng lớn trong phạm vi toàn xã hội và tạo nên những đặc
tính chung trong nhu cầu, ước muốn, hành vi tiêu dùng của đông đảo người mua trong một
quốc gia, một dân tộc. Ví dụ, nói đến truyền thống văn hoá ẩm thực của người Việt Nam
Nguyễn Tiến Trung Lớp: Thương mại 46A
8
Chuyên đề tốt nghiệp
phải nói đến tập quán tiêu dùng cơm gạo với những phương tiện để ăn như bát đũa v.v
Còn ở nhiều nước phương Tây thì đó là bánh mì, bơ, sữa, thịt với các phương tiện thìa, dĩa
v.v Các giá trị văn hoá đặc thù tạo nên phong cách riêng trong nhu cầu hành vi, đặc tính
mua bán của từng nhóm người tiêu dùng trong xã hội. Các giá trị văn hoá ấy có thể được
phân biệt theo vùng, loại tín ngưỡng, khu vực địa lý, nhóm dân tộc hay từng tầng lớp người.
Cùng với sự tồn tại của các giá trị văn hoá cơ bản, cốt lõi, truyền thống gọi là các giá trị văn
hoá sơ phát còn có các giá trị văn hoá không cơ bản, tạm thời hay là giá trị văn hoá thứ phát.
Các giá trị văn hoá cốt lõi được hình thành từ lâu đời và được truyền từ thế hệ này qua thế
hệ khác, được củng cố bằng những quy chế cơ bản của xã hội và có tính bền vững rất cao.
Điều này cũng đã quyết định tính chất bền vững của những tập tính tiêu dùng của người mua
chịu ảnh hưởng sâu sắc của những giá trị văn hoá đó. Ngược lại, các giá trị văn hoá thứ phát
lại dễ có thể thay đổi hơn, dễ điều chỉnh hơn và tương tự như vậy người ta có thể làm thay
đổi, điều khiển được hành vi tiêu dùng bị quy định bởi các giá trị văn hoá này.
1.2 Môi trường chính trị, pháp luật
Môi trường chính trị là một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quyết
định Marketing của doanh nghiệp. Môi trường chính trị bao gồm hệ thống luật và các văn
bản dưới luật, các công cụ chính sách của nhà nước, tổ chức bộ máy và cơ chế điều hành của
chính phủ và các tổ chức chính trị xã hội. Sự tác động của môi trường chính trị tới các quyết
định Marketing phản ánh sự tác động can thiệp của các chủ thể quản lý vĩ mô tới kinh doanh
của doanh nghiệp.
Vũ đài chính trị ảnh hưởng lớn tới những quy định của pháp luật trong kinh doanh và
sức mua của khách hàng và các doanh nghiệp khác. Bạn phải xem xét các vấn đề như:
- Mức độ ổn định của môi trường chính trị như thế nào?
-Liệu chính sách của Chính phủ có ảnh hưởng tới hệ thống pháp luật và các quy
định về hoạt động kinh doanh và thuế hay không?
-Chính phủ có ảnh hưởng thế nào trong chính sách marketing?
-Chính sách của Chính phủ với nền kinh tế đất nước như thế nào?
-Chính phủ có những đánh giá, nhìn nhận về văn hoá và tôn giáo như thế nào?
-Chính phủ có tham gia các hiệp định thương mại như EU, NAFTA, ASEAN hay
những hiệp định khác không?
1.3 Môi trường kinh tế và công nghệ
Nguyễn Tiến Trung Lớp: Thương mại 46A
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Các marketer cần phải biết đánh giá tình trạng nền kinh tế thương mại trong thời
gian trước mắt và lâu dài. Điều này đặc biệt đúng khi lập kế hoạch marketing quốc tế. Bạn
cần phải xem xét các yếu tố kinh tế như:
-Tỷ lệ lãi suất.
-Tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp tính theo đầu người.
-Triển vọng GDP dài hạn tính trên đầu người và một số yếu tố khác.
Công nghệ là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với lợi thế cạnh tranh của một doanh
nghiệp, nó là động lực chính trong toàn cầu hoá. Hãy xem xét những điểm sau:
-Công nghệ có cho phép các sản phẩm và dịch vụ được sản xuất với giá rẻ hơn và
tiêu chuẩn chất lượng cao hơn không?
-Công nghệ có cung cấp cho người tiêu dùng và doanh nghiệp các sản phẩm và dịch
vụ mới hơn như hoạt động ngân hàng trực tuyến, điện thoại di động thế hệ mới ?
-Công nghệ mới thay đổi việc phân phối sản phẩm như thế nào ví dụ như bán sách,
vé máy bay hoặc đấu giá qua Internet?
-Công nghệ có mang lại cho các doanh nghiệp cách giao tiếp mới với người tiêu
dùng ví dụ như biểu ngữ quảng cáo trên Internet (banner), Quản lý quan hệ khách hàng
(CRM)
1.4 Môi trường địa lý sinh thái
Các điều kiện về tự nhiên và cơ sở hạ tầng tham gia vào quá trình hình thành cơ hội
và khai thác cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố về địa lý đóng vai trò to lớn và
nó ảnh hưởng tới cách thức và phương thức kinh doanh của doanh nghiệp. Việc doanh
nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và xem xét yếu tố địa lý có liên quan đến khả năng bán hàng
của doanh nghiệp. Vì vậy các quyết định về địa điểm bán hàng phi được cân nhắc và lựa
chọn phù hợp với yêu cầu cũng như khả năng chinh phục khách hàng. Các yếu tố về điều
kiện tự nhiên không chỉ liên quan đến vấn đề phát triển bền vững của một quốc gia mà còn
liên quan đến phát triển bền vững của một doanh nghiệp. Các yếu tố thuộc môi trường này
cần kể đến là: Các công trình giao thông, thông tin liên lạc, sự thiếu các nguồn nguyên liệu
thô, mức gia tăng ô nhiễm, vai trò của nhà nước trong bảo vệ môi trướng sinh thái đây là
vấn đề mà doanh nghiệp phải tính toán, nó buộc doanh nghiệp phải tăng chi phí, thay đổi
công nghệ, đóng gói sản phẩm không gây ô nhiễm môi trường. Các doanh nghiệp phi lưu ý
từ mối đe doạ này và tìm cơ hội hoà hợp với khuynh hướng từ môi trường này.
2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp, có thể kiểm soát được
Nguyễn Tiến Trung Lớp: Thương mại 46A
10
Chuyên đề tốt nghiệp
2.1 Tiềm lực tài chính
Tiềm lực tài chính là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp
thông qua lượng vốn mà doanh nghiệp có thể hoạt động và kinh doanh. Tiềm lực tài chính
phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp trên thị trường, quy mô kinh doanh cũng như khả năng
khai thác cơ hội. Nguồn vốn của doanh nghiêp sẽ được đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận. Tuy
nhiên vấn đề đặt ra là sử dụng nguồn vốn sao cho có hiệu quả, tức là vấn đề bảo toàn vốn và
phát triển vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Nghiên cứu tài chính doanh
nghiệp có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với nhà qun trị. Nguồn vốn được đầu vào quá trình
kinh doanh, không làm mất đi giá trị của đồng vốn mà vẫn đảm bảo duy trì năng lực sản
xuất kinh doanh, khả năng mua sắm, khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Kể cả trong
thời kỳ xảy ra lạm phát vốn kinh doanh cũng phi tăng lên tương ứng.
Các các chỉ tiêu đánh giá tiềm lực tài chính:
-Vốn chủ sở hữu: vốn tự có, vốn bổ sung, vốn do nhà nước cấp.
-Vốn huy động: vốn vay ngân hàng, vốn huy động, vốn từ các tổ chức tín dụng khác,
liên doanh liên kết
-Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận
-Giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường
-Khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn
-Các tỉ lệ về khả năng sinh lời

2.2 Tiềm lực con người
Con người trong hoạt động kinh doanh và đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại dịch
vụ là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo thành công. Chính con người với năng lực thực
sự mới đánh giá và lựa chọn cơ hội kinh doanh phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp cũng
như khai thác một cách có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp. Chỉ con người có tri
thức đề ra chiến lược kinh doanh và các biện pháp để thực hiện chiến lược giúp doanh
nghiệp phát triển ổn định. Do đó, việc đánh giá và phát triển tiềm năng con người trở thành
nhiệm vụ mang tính chiến lược trong kinh doanh.
Đối với mỗi doanh nghiệp để đảm bảo thành công trên thị trường. Chiến lược phát
triển con người cần quan tâm:
- Lựa chọn lực lượng lao động có năng suất, có khả năng phân tích và sáng tạo. Đây
là yêu cầu liên quan đến tập hợp. Lực lượng lao động và đào tạo những người đáp ứng được
Nguyễn Tiến Trung Lớp: Thương mại 46A
11
Chuyên đề tốt nghiệp
yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh. Quá trình sản xuất kinh doanh luôn biến động
không ngừng, để hoàn thành nhiệm vụ kinh doanh, con người cần phi hội tụ được ba yếu tố:
tố chất bẩm sinh, kiến thức và kinh nghiệm. Con người là tài sản có giá trong doanh nghiệp.
Vấn đề đặt ra đối với người quản lý là bên cạnh việc tuyển lựa lao động phù hợp với yêu cầu
của công việc đồng thời phi bố trí, sắp xếp lao động phù hợp với trình độ chuyên môn và
phát huy được năng lực của người lao động. Yêu cầu về bố trí sẵp xếp lao động phi dựa theo
nguyên tắc:
• Ứng theo năng lực và kinh nghiệm của từng người để sắp đặt họ vào vị trí, nhiệm
vụ thích hợp.
• Cân nhắc suy nghĩ đến cá tính, lòng hăng say, nhiệt tình của từng người khi săp
xếp vị trí.
• Không dựa vào tình cảm chủ quan, mà dựa vào tiêu chuẩn đặc biệt.
• Chất và lượng công việc được quản lý hợp lý.
• Công việc của các nhân viên cấp dưới không trùng chéo lẫn nhau.
• Đối với công việc cần sự hợp tác của nhiều người, cần xem xét rõ trách nhiệm
chính xác mời đến những người khác.
- Xây dựng chiến lược con người và phát triển nguồn nhân lực.
Đây là nhiệm vụ rất quan trọng, nó đảm bảo cho doanh nghiệp một đội ngũ nguồn
nhân lực có đủ năng lực, kiến thước thích ứng này không để liên quan đến đội ngũ lao động
hiện tạo mà còn tạo khả năng thu hút nguồn lao động xã hội giúp doanh nghiệp phát triển ổn
định trong tương lai.
2.3 Tiềm lực vô hình
Tiềm lực vô hình đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh. Nó là yếu tố hợp thành
nên sức mạnh của doanh nghiệp. Nhận thức về vai trò của tiềm lực vô hình và tìm cách
khuyếch chương tiềm lực vô hình có ý nghĩa to lớn. Một mặt, nó tạo ra khả năng "bán hàng"
gián tiếp của doanh nghiệp, đồng thời nâng cao được vị thế của doanh nghiệp trên thương
trường. Sức mạnh của tiềm lực vô hình thể hiện ở khả năng ảnh hưởng và tác động đến sự
lựa chọn, chấp nhận và quyết định mua hàng của khách hàng. Vô hình bởi người ta không
thể lượng hoá nó một cách trực tiếp mà phi "đo" qua các tham số rrung gian.
Nhìn chung tiềm lực vô hình không phải được hình thành một cách tự nhiên, mà nó
cần được tạo dựng một cách có ý thức thông qua các mục tiêu và chiến lược xây dựng tiềm
lực vô hình của doanh nghiệp. Chiến lược này phi được xây dựng một cách có hệ thống và
Nguyễn Tiến Trung Lớp: Thương mại 46A
12
Chuyên đề tốt nghiệp
tính toán của người quản lý. Triết lý mà người ta thường sử dụng là tìm cách "khuyếch
chưng tài sản vô hình, che dấu tài sản hữu hình". Một số biện pháp để phát triển tiềm lực vô
hình.
- Xây dựng hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường:P một hình ảnh
"tốt" và doanh nghiệp sẽ có được sự phản ứng "tốt" từ phía khách hàng về sản phẩm hàng
hoá mà doanh nghiệp kinh doanh. Sự hiểu biết "đầy đủ" của khách hàng về doanh nghiệp sẽ
được "ưu tiên" trong quyết định "mua hàng" của khách hàng. Điều này sẽ tạo ra khả năng
'bán hàng" một cách dễ dàng hơn.
- Nền kinh doanh những nhãn hiệu đã được "tiêu chuẩn hoá", sự nổi tiếng của nhãn
hiệu hàng hoá liên quan đến khoản này bán hàng dễ/ khó. Các dòng sản phẩm khác nhau sẽ có
ảnh hưởng khác nhau đến hành vị mua sắm của khách hàng. Mỗi loại sản phẩm sẽ gắn với một
nhãn hiệu cụ thể. Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu phi đạt được "5 mức độ quen thuộc của
nhãn hiệu hàng hoá". Mức độ của nhãn hiệu càng cao, khả năng bán hàng càng dễ.
- Xây dựng uy tín và mối quan hệ xã hội của bãn lãnh đạo doanh nghiệp: đó là mối
quan hệ của ban lãnh đạo đối với khách hàng, người cung ứng, đối thủ cạnh tranh, tổ chức
tài chính, tổ chức chính trị - xã hội.
Khả năng kiểm soát, chi phối nguồn cung hàng hóa và dự trữ hợp lý
Đây là yếu tố ảnh hưởng đến yếu tố đầu vào của doanh nghiệp và tác động đến kết
quả thực hiện chiến lược cũng như ở khâu cuối cùng là tiêu thụ sản phẩm. Các chương
trình,. Nếu các yếu tố " đầu vào" không được kiểm soát sẽ phá vỡ toàn bộ chương trình kinh
doanh của doanh nghiệp. Sự biến động của " đầu vào" sẽ tác động tới thời điểm giao hàng,
khối lượng cung cấp, uy tín với khách hàng, uy tín của doanh nghiệp từ đó không đạt được
mục tiêu tìm kiếm lợi nhận đã đề ra. Do đó, kiểm soát nguồn cung cấp và dự trữ giúp doanh
nghiệp duy trì hoạt động kinh doanh được ổn định và tăng cường cạnh tranh trên thị trường.
Nguyễn Tiến Trung Lớp: Thương mại 46A
13
Chuyên đề tốt nghiệp
2.4 Trình độ tổ chức quản lý
Điều tiết hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp được quyết định bởi ban lãnh
đạo cao nhất để thành công trong kinh doanh, hoạt động của mỗi doanh nghiệp cần được
thực hiện trên nền của một số hệ thống cấu trúc tổ chức hợp lý và có hiệu quả. Trên thực tế,
yếu tố luôn có độ "tĩnh" nhất định trong khi môi trường kinh doanh thì luôn biến động không
ngừng. Do đó đổi mới chiến lược để thích ứng với hoàn cnh cụ thể của doanh nghiệp đòi hỏi
quản trị tổ chức một trong những nhiệm vụ quan trọng, phi được tiến hành thường xuyên
trong suất quá trình hình thành tồn tại và phát triển.
Mỗi doanh nghiệp đều được hợp thành của các bộ phận, tập hợp các bộ phận này tạo
nên hệ thống tổ chức và kết quả thực hiện của các bộ phận không thể tách rời nhau một cách
độc lập mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Kết quả thực hiện của bộ phận này có
ảnh hưởng đến kết quả thực hiện của bộ phận khác. Điều này có nghĩa là, các bộ phận, chức
năng nghiệp vụ thực hiện tốt thì có thể dẫn đến kết quả chung sẽ tốt. Mỗi doanh nghiệp
muốn đạt được mục tiêu của mình thì đồng thời phi đạt đến một trình độ tổ chức, quản lý
tương ứng. Khả năng tổ chức quản lý doanh nghiệp dựa trên quan điểm tổng hợp bao quát
tập trung vào những mối quan hệ tương tác của tất cả các bộ phận tạo thành tổng thể. Tạo
nên sức mạnh thật sự cho doanh nghiệp.
2.5 Trình độ tiên tiến của trang thiết bị
Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp tới qúa trình tiên tiến về trang thiết bị công nghệ. Sẽ
quyết định về chất lượng hàng hoá, năng suất lao động và gửi thành hàng hoá. Nếu 2 doanh
nghiệp có các yếu tố khác nhau, doanh nghiệp nào có trình độ trang thiết bị công nghệ cao
hơn sẽ cho phép nâng cao được năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Điều này có
nghĩa là doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao hơn. Bởi vì "cái" mà doanh nghiệp đưa ra
có khả năng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và giá thành thấp hơn. Vì vậy mỗi
doanh nghiệp cần phi thường xuyên đổi mới trang thiết bị, ứng dụng các thành tựu khoa học
kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh cho phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp.
Vị trí địa lý cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
Cơ sở kỹ thuật của doanh nghiệp chủ yếu là phản ánh các nguồn tài sản cố định mà
doanh nghiệp huy động trong kinh doanh như: nhà xưởng, thiết bị, văn phòng yếu tố này
liên quan đến quy mô kinh doanh và khả năng khai thác lợi thế của doanh nghiệp.
Vị trí địa lý được xem xét ở đây tức là một địa điểm cụ thể,nơi mà doanh nghiệp đặt
trụ sở. Yếu tố này có thể được xem là một trong những yếu tố tạo nên tiềm lực vô hình của
Nguyễn Tiến Trung Lớp: Thương mại 46A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét