Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

bảo hiểm xây dựng và giám định, xét giải quyết bồi thường

II.Nội dung cơ bản của bảo hiểm xây dựng
1. Người được bảo hiểm
Trong bảo hiểm xây dựng người được bảo hiểm có thể bao gồm:
- Chủ đầu tư(Principal): là người chủ của công trình xây dựng.
- Các kiến trúc sư, kĩ sư, cố vấn chuyên môn làm việc cho chủ đầu tư theo hợp đồng
- Chủ thầu: người kí kết hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư. Cũng có khi để rõ ràng,
trong trường hợp có nhiều chủ thầu và chủ đầu tư, người ta dùng khái niệm chủ đầu tư
chính hay chủ thầu chính
- Chủ thầu phụ: là các bên không có các hợp đồng liên quan được kí kết trực tiếp
với chủ đầu tư chính mà họ chỉ kí kết hợp đồng làm thuê cho chủ thầu.
Có thể có cả trường hợp một số nhà thầu phụ không có cả hợp đồng kí kết trực tiếp
với chủ thầu mà với một nhà thầu phụ khác (nhà thầu phụ cảu nhà thầu phụ)
Cần lưu ý rằng đơn bảo hiểm xây dựng không bảo hiểm cho trách nhiệm nghề
nghiệp của các kiến trúc sư, kĩ sư, cố vấn chuyên môn (ví dụ trách nhiệm của họ khi tính
toán, thiết kế) mặc dù trong thành phần người được bảo hiểm có họ trong đó.
2. Đối tượng bảo hiểm
Có thể nói tổng quát rằng đối tượng của bảo hiểm xây dựng bao gồm tất cả các
công trình dân dụng, công trình công nghiệp…Nói chung là các công trình có sử dụng
cament và bê tông. Cụ thể các công trình sau đều là đối tượng bảo hiểm:
- Nhà ở, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, nhà hát, rạp chiếu phim, các công
trình văn hoá khác…
- Nhà máy, xí nghiệp
- Đường sá (cả đường săt,bộ) và sân bay
- Cầu cống, đê đập, công trình cấp thoát nước, kênh đào, cảng
Các hạng mục chủ yếu được bảo hiểm bao gồm:
+ Giá trị thi công xây dựng : bao gồm giá trị của tất cả các hạng mục công trình do
chủ thầu tiến hành (kể cả nhà thầu phụ) theo hợp đồng xây dựng kí kết giữa chủ thầu và
chủ đầu tư.
5
+ Các trang bị và các công trình tạm thời: Đây là các trang bị dùng trong khi xây
dựng, các trang bị này được sử dụng nhiều lần cho nhiều công trình khác nhau. Chỉ một
phần giá trị hao mòn của các trang bị đó được tính vào giá trị của công trình. Ví dụ: các
loại công cụ, đồ nghề, lán trại tạm thời, trụ sở tạm thời, nhà kho, xưởng, dàn giáo, cốt pha,
hệ thống băng tải, rào chắn…Các trang bị này nếu yêu cầu bảo hiểm thì cần có danh sách
kèm theo đơn bảo hiểm
+ Máy móc xây dựng: Đây là loại máy dùng trong quá trình xây dựng . Ví dụ: các
loại máy san ủi đất, các loại cẩu, các loại phương tiện vận chuyển dù các phương tiện đó
thuộc quyền sở hữu của NĐBH hay do họ đi thuê. Cần chú ý các phương tiện vận chuyển
chỉ sử dụng trên công trường không được phép lưu hành trên công lộ.
+ Tài sản có sẵn trên và xung quanh công trường : đối với loại tài sản này, cần phân
biệt 2 loại khác nhau:
Tài sản trong và xung quanh khu vực công trường thuộc quyền sở hữu, quản lí,
chăm sóc của NĐBH. Loại tài sản này thuộc phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm xây
dựng.
Loại tài sản nằm trong và xung quanh khu vực công trường nhưng thuộc quyền sở
hữu của bên thứ ba. Loại này được bảo hiểm theo phần hai của đơn bảo hiểm xây dựng
trách nhiệm đối với người thứ ba.
+ Chi phí dọn dẹp: Bao gồm các chi phí phát sinh do phải di chuyển, dọn dẹp các
chất phế thải xây dựng, đất đá do sự cố thuộc trách nhiệm bảo hiểm gây ra trên khu vực
công trường, nhằm mục đích làm sạch để có thể tiếp tụ thi công xây dựng công trình.
+ Trách nhiệm đối với người thứ ba: Đây là phần II của đơn bảo hiểm, là một trong
hai phần chủ yếu của đơn bảo hiểm xây dựng. Nó bao gồm trách nhiệm theo luật định mà
người được bảo hiểm phải gánh chịu do gây tổn thất về người hoặc tài sản cho bên thứ ba.
Với điều kiện là các tổn thất này xảy ra có liên quan đến công trình được bảo hiểm và xảy
ra trong khoảng thời gian bảo hiểm.
Tuy nhiên, các tổn thất gây ra cho công nhân hay người làm thuê của NĐBH không
thuộc trách nhiệm bồi thường của đơn bảo hiểm này. Họ được bảo hiểm bằng đơn bảo
hiểm tai nạn lao động hoặc trách nhiệm của chủ thầu đối với người làm thuê.
6
3. Địa điểm công trình
Cách xác định địa điểm công trình cũng phải xác định cho rõ ràng . Thông thường
địa điểm công trường được ghi rõ trong phụ lục của đơn bảo hiểm và trong giấy yêu cầu
bảo hiểm do người được bảo hiểm lập. Trong trường hợp xây dựng các ngôi nhà hay công
trình trong một địa điểm cố định thì vấn đề xác định địa điểm công trình tương đối đơn
giản. Nhưng trong trường hợp xây dựng đường sá thì công trường là suốt chiều dài của
quãng đường với các công trình phụ trợ suốt dọc hai bên đường và các địa điểm khai thác
đất đá để làm đường. Trong trường hợp xây dựng các công trình như đập, cầu cống, nhà
kho lớn thì công trường sẽ bao gồm cả các con đường tạm thời để ra vào nơi đó.
4. Phạm vi bảo hiểm
4.1.Các rủi ro chính thuộc phạm vi bảo hiểm
Vì là đơn bảo hiểm mọi rủi ro nên phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm CAR rất
rộng. Chỉ trừ những rủi ro đặc biệt bị loại trừ nêu trong đơn bảo hiểm còn phần lớn các rủi
ro gây nên các thiệt hại bất ngờ và không lường trước được diễn ra trong thời gian bảo
hiểm tại khu vực công trường đều được bồi thường theo đơn bảo hiểm này. Sau đây là một
số rủi ro chính :
- Cháy nổ và tổn thất do tiến hành các biện pháp chữa cháy.
- Sét đánh
- Bị các phương tiện giao thông hay máy bay đâm vào
- Lũ lụt, mưa gió, tuyết lở
- Động đất, núi lửa phun, song thần
- Trộm cắp
- Thiếu kinh nghiệm, sơ suất, hành động ác ý hay cố tình nhầm lẫn của con người
nhưng không phải là người được bảo hiểm hay đại diện của họ
Phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm xây dựng còn bao gồm cả những tổn thất của
nguyên vật liệu xây dựng, các trang thiết bị lắp đặt trong khi vận chuyển trên khu vực công
trường hay khi lắp đặt, tháo dỡ
4.2. Các điểm loại trừ
7
- Các tổn thất xảy ra trực tiếp hay hậu quả của chiến tranh hay các hành động tương
tự chiến tranh, đình công, bãi công, nổi loạn, gián đoạn hay ngừng công việc theo lệnh của
nhà chức trách.
- Tổn thất do phản ứng hạt nhân, phóng xạ hạt nhân hay nhiễm phóng xạ
- Tổn thất do hành động cố ý của NĐBH hay đại diện của họ
- Các tổn thất có tính chất hậu quả, ví dụ : tiền phạt do chậm trễ hay vi phạm hợp
đồng, mất thu nhập do thời gian xây dựng kéo dài…
- Những hỏng hóc về cơ khí, về điện hay những trục trặc của các máy móc xây
dựng
- Tổn thất do thiết kế sai, do nguyên vật liệu kém chất lượng hay sai chủng loại
- Hao mòn, rỉ sét, oxi hoá, giảm giá trị do để lâu không sử dụng hay dưới điều kiện
bình thường về nhiệt độ, áp suất
- Các mất mát hay thiệt hại của tài liệu, bản vẽ, biểu mẫu, chứng chỉ thanh toán, tiền
séc
- Những tổn thất do tạm ngừng công việc
- Mức khấu trừ mà NĐBH phải tự gánh chịu trong mỗi trường hợp có sự cố thuộc
trách nhiệm bảo hiểm
Các rủi ro được loại trừ nêu trên đều có thể được bảo hiểm bởi các điều khoản bổ
sung. VD: rủi ro đình công chiến tranh (S.R.R.C):ĐKBS 001
rủi ro thiết kế:ĐKBS 115
5. Thời hạn bảo hiểm
Thông thường bảo hiểm có hiệu lực từ khi bắt đầu tiến hành xây dựng (san nền, đào
đắp ) nhưng cũng có thể có hiệu lực cả thời gian lưu kho trước đó, nhưng không quá 3
tháng. Riêng đối với các máy móc, thiết bị xây dựng trách nhiệm của NBH chỉ thực sự bắt
đầu khi tháo dỡ các máy móc thiết bị đó xuống khu vực công trường và kết thúc khi di
chuyển khỏi công trường.
Baỏ hiểm kết thúc khi công trình được bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chậm nhất
không vượt quá ngày ghi trong phụ lục đơn bảo hiểm. Trong trường hợp công trình hoàn
8
thành và đưa vào sử dụng từng bộ phận thì trách nhiệm của NBH đối với bộ phận đó sẽ
chấm dứt ngay sau khi nó được bàn giao đưa vào sử dụng.
Nếu NĐBH yêu cầu thì thời hạn bảo hiểm có thể mở rộng cho cả thời gian bảo hành
của công trình. Trong trường hợp này sẽ áp dụng ĐKBS số 003 hoặc 004.
Mỗi loại công trình xây dựng đều có một thời gian xây dựng tiêu chuẩn nhất định.
Nêu NĐBH yêu cầu BH với thời hạn vượt quá thời gian tiêu chuẩn này thì phần thời gian
vượt quá đó phải trả thêm phí bảo hiểm. Trong khi xây dựng, nêu NĐBH thấy rằng tiến độ
công trình có thể phải kéo dài thì phải kịp thời thông báo cho NBH và yêu cầu bảo hiểm
cho thời gian kéo dài đó.
6. Giá trị bảo hiểm trong bảo hiểm xây dựng
Trong bảo hiểm xây dựng, giá trị bảo hiểm là vấn đề quan trọng và rất phức tạp.
Xác định được chính xác giá trị bảo hiểmasex giúp cho cả NBH và NĐBH tránh được các
tranh chấp không cần thiết khi có tổn thất xảy ra. Các giá trị phải xác định trong bảo hiểm
xây dựng bao gồm:
6.1.Giá trị bảo hiểm của phần công tác thi công xây dựng
Người được bảo hiểm có thể sẽ dùng một trong các giá trị sau đây làm giá trị bảo
hiểm cho phần này:
- Tổng giá trị khôi phục của công trình, nghĩa là giá trị khôi phục lại công trình
trong trường hợp có tổn thất xảy ra.
- Giá trị dự toán của công trình theo hợp đồng xây dựng
- Giá trị bằng hoặc nhỏ hơn tổn thất lớn nhất có thể xảy ra.
Trong thời gian xây dựng, nếu có sự thay đổi lớn về giá cả dẫn đến việc giá trị bảo
hiểm thay đổi thì người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho NBH biết. Trường hợp
này giá trị bảo hiểm sẽ phải được điều chỉnh ngay, không cần chờ đến khi công trình hoàn
thành. NBH phải có trách nhiệm thuyết phục NĐBH khai đúng giá trị của công trình để
tránh xảy ra tranh chấp sau này trong trường hợp xảy ra tổn thất thuộc trách nhiệm bồi
thường.
6.2. Giá trị bảo hiểm của máy móc xây dựng
9
Giá trị bảo hiểm của máy móc xây dựng phải là giá trị thay thế tương đương mức
mới của máy đó ( New Replacement Value) tức là giá trị của một máy móc tương đương
có thể mua tại thời điểm đó để thay thế máy bị tổn thất.
6.3. Giá trị bảo hiểm đối với trang bị xây dựng
Tương đối khó xác định vì trang bị xây dựng rất nhiều hạng mục với nhiều giá trị
khác nhau. Có những hạng mục chỉ sử dụng trong khoảng thời gian nhất định tại công
trường sau đấy lại di chuyển tới công trình khác. Chỉ một phần giá trị của trang bị này
được đưa vào giá thành của công trình.
Cách tốt nhất để xác định giá trị bảo hiểm của trang bị xây dựng là dự kiến giá trị
của trang bị tại thời điểm tập trung cao nhất trong quá trình xây dựng. Còn một cách khác
là xác định trang bị theo từng giai đoạn của công việc hay bảo hiểm toàn bộ giá trị của
trang bị xây dựng cần dùng cho cả công trình.
6.4.Giá trị bảo hiểm đối với chi phí dọn dẹp
Cần dự kiến số chi phí cần thiết để di chuyển chất phế thải xây dựng, đất đá sau khi
xảy ra tổn thất lớn. Ví dụ chi phí bơm nước, vét bùn, vận chuyển đi khỏi khu vực công
trình đang thi công …Cần tính tới khả năng phải di chuyển nhiều nhất để phòng trường
hợp xảy ra tổn thất lớn nhất. Ví dụ năm 1964, trong khi xây dựng một toà nhà tại PARIS
một phần ngôi nhà bị sụp, người ta đã phải di chuyển tới 100.000 tấn gạch vụn , bê tông đổ
vỡ để có thể tiếp tục thi công công trình. Chi phí này lên tới hàng triệu USD.
6.5.Giá trị bảo hiểm của tài sản trên và xung quanh công trường
Đây là nói về giá trị các tài sản thuộc quyền quản lí, sở hữu, chăm nom, coi sóc…
của NĐBH. Giá trị bảo hiểm là giá trị của các tài sản đó tại thời điểm bảo hiểm. NĐBH
cần kê khai đúng giá trị thực của các tài sản đó để có cơ sở chính xác cho NBH bồi thường
trong trường hợp xảy ra tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
7. Giấy yêu cầu bảo hiểm trong bảo hiểm xây dựng
Giấy yêu cầu bảo hiểm do người được bảo hiểm lập theo mẫu in sẵn của NBH. Đây
là cơ sở quan trọng để NBH căn cứ vào đó đánh giá rủi ro, tính phí bảo hiểm và sau đó cấp
đơn bảo hiểm và cũng là chứng từ pháp lí để tranh chấp (nếu có)
Có thể tóm tắt mục đích chính giấy yêu cầu bảo hiểm như sau: nó là cơ sở và tiền đề
để cho NBH
10
- Phân loại rõ ràng loại công trình
- Dự đoán các hiểm hoạ mà công trình có thể chịu tác động
- Xác định phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm, rủi ro nào cần phải loại trừ, rủi ro
nào có thể chấp nhận bảo hiểm bằng ĐKBS….
- Tính phí bảo hiểm sát với thực tế
- Bổ sung các điều kiện cần thiết cho đơn bảo hiểm
Đối với các công trình tương đối đặc biệt như: cầu, đập, cảng, đường xe lửa, đường
bộ, đường hầm, cống thoát nước….thì ngoài ra còn có thêm các bản câu hỏi bổ sung. Mục
đích của bản câu hỏi bổ sung này là tạo điều kiện cho NBH nắm được:
- Các thông số kĩ thuật chi tiết của công trình
- Giá trị của từng hạng mục của công trình
- Chương trìng và tiến độ xây dựng
- Các số liệu về khí tượng, thuỷ văn, địa chất…
- Các chi tiết phụ khác như lán trại, bãi, kho chứa, xưởng, máy móc và các trang bị
xây dựng.
III. Giám định và xét giải quyết bồi thường trong bảo hiểm xây dựng.
1. Nguyên tắc chung của việc giám định và xét giải quyết bồi thường
Cũng như trong các loại hình bảo hiểm khác, công tác giám định và bồi thường tổn
thất trong bảo hiểm xây dựng phải tuân thủ theo một số nguyên tắc nhất định để đảm bảo
quyền lợi cho công ty bảo hiểm cũng như người được bảo hiểm. Đó là, việc giám định và
giải quyết bồi thường phải đảm bảo kịp thời, chính xác, khách quan và thoả đáng. Ngoài
ra, do tính chất phức tạp và đặc điểm đặc thù của các đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm
kĩ thuật, các nhà bảo hiểm có thể trực tiếp hoặc thuê giám định viên chuyên nghiệp thực
hiện công tác giám định.
2. Các bước cơ bản trong giám định và bồi thường tổn thất
2.1. Nhận thông báo tổn thất và yêu cầu giám định
Khi tổn thất xảy ra, người được bảo hiểm có trách nhiệm báo ngay cho người bảo
hiểm, giữ nguyên hiện trường và thực hiện các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất phát
11
sinh thêm. Sau một khoảng thời gian nhất định hoàn thành các giấy tờ sau và gửi cho công
ty bảo hiểm:
- Thông báo chi tiết bằng văn bản về tổn thất.
- Giấy yêu cầu giám định (theo mẫu của người bảo hiểm)
- Giấy chứng nhận bảo hiểm
- Hoá đơn thanh toán phí bảo hiểm
- Xác nhận của nhân chứng về tai nạn hoặc sự cố.
2.2. Tiến hành giám định
Công tác giám định đòi hỏi giám định viên phải giải quyết các công việc sau:
- Xem xét hiện trạng tổn thất, chụp ảnh hiện trường
- Thu thập các số liệu, hoá đơn, chứng từ có liên quan đến tổn thất
- Lập biên bản giám định
- Thẩm tra lại các bên có liên quan về tai nạn hoặc sự cố và các biện pháp đề phòng
hạn chế tổn thất phát sinh thêm.
2.3.Giải quyết khiếu nại và bồi thường
Hồ sơ khiếu nại yêu cầu bồi thường bao gồm:
- Giấy chứng nhận bảo hiểm
- Các hoá đơn đóng phí bảo hiểm
- Giấy yêu cầu bồi thường
- Biên bản giám định
- Báo cáo của công an (nếu cần)
- Lời khai của nạn nhân, nhân chứng
Trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm căn cứ vào thời hạn bảo hiểm, phạm
vi bảo hiểm. Giới hạn trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm được căn cứ vào:
- Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm
- Mức giới hạn trách nhiệm đối với các tổn thất do các rủi ro bổ sung.
3.Giám định bảo hiểm
12
3.1. Mục đích và yêu cầu của công tác giám định trong bảo hiểm xây dựng
a, Mục đích
Mục đích chính của việc giám định và tính toán tổn thất(gọi tắt sau đây là công tác
giám định tổn thất) trong bảo hiểm nói chung và bảo hiểm xây dựng nói riêng là xác định
nguyên nhân gây ra tổn thất có thuộc trách nhiệm bảo hiểm hay không và tính toán chính
xác mức độ tổn thất thực tế và số tiền bồi thường có thể thuộc trách nhiệm bảo hiểm để có
cơ sở giải quyết bồi thường nhanh chóng, chính xác và công bằng cho khách hàng nếu tổn
thất thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
Ngoài ra, thông qua việc giám định có thể đề xuất với người được bảo hiểm những
biện pháp nhằm hạn chế tới mức thấp nhất hậu quả của tổn thất đã xảy ra và ngăn ngừa
những tổn thất phát sinh trong tương lai và giúp cho cán bộ khai thác làm tốt hơn công tác
đánh giá rủi ro trước khi nhận bảo hiểm đối với các dịch vụ có tính chất tương tự.
b, Yêu cầu
- Mọi tổn thất được khách hàng thông báo đều phải được giám định một cách nhanh
chóng. Ngay sau khi nhận được thông báo tổn thất giám định viên phải đến ngay hiện
trường để ghi chép các thông tin ban đầu, giám định thiệt hại và thu thập các chứng từ cần
thiết. Trong trường hợp tổn thất phức tạp chưa thể thực hiện được việc giám định toàn diện
và chưa thu thập được đầy đủ thông tin ngay một lần vào thời điểm giám định đầu tiên thì
phải niêm phong hiện trường và các chứng từ hoá đơn có liên quan đến số lượng và giá trị
của tài sản bị tổn thất phục vụ cho việc điều tra giám định tiếp theo. Việc giám định có thể
được thực hiện theo từng bước từ sơ bộ đến chi tiết tuỳ theo tính chất phức tạp của từng vụ
tổn thất cụ thể. Trong trường hợp tổn thất được xác định không thuộc trách nhiệm bảo
hiểm phải thông báo chính thức bằng văn bản cho người được bảo hiểm kèm theo những
giải thích thoả đáng.
Đối với những tổn thất có giá trị ước tính lớn hơn 100000 đôla Mỹ hoặc những tổn
thất có nguyên nhân phức tạp khó xác định, phải báo cáo ngay về Tổng công ty để có biện
pháp xử lí kịp thời. Đối với tất cả các đơn bảo hiểm có phát sinh tái bảo hiểm chỉ định (qua
môi giới hoặc theo yêu cầu của khách hàng ) thì khi có bất kì tổn thất nào xảy ra phải báo
cáo ngay lập tức về tổng công ty và nếu có thể thì phải đồng thời thông báo ngay cho công
ty môi giới và công ty tái bảo hiểm chỉ định biết. Tuy nhiên trong các trường hợp trên việc
giám định và tính toán tổn thất sơ bộ vẫn phải được thực hiện ngay sau khi nhận được
thông báo của người được bảo hiểm.
13
Trong trường hợp đặc biệt, nếu việc giám định không thực hiện được đầy đủ do
hiện trường bị xáo trộn, hoá đơn chứng từ bị tiêu huỷ…thì có thể căn cứ vào biên bản của
các cơ quan chức năng (công an, cảnh sát PCCC…), khai báo của người được bảo hiểm,
bằng chứng, ảnh chụp, hiện vật thu được và kết quả điều tra, thẩm định sau đó của Bảo
Việt. Trong trường hợp này giám định viên cũng phải lập một biên bản ghi rõ những thông
tin nào có thể xác định được và thể hiện đầy đủ các tình huống như đề cập ở trên và nêu
đánh giá của mình về mức độ tổn thất và trách nhiệm của Bảo Việt.
Nếu tổn thất có thể gây ra bởi bất kì bên thứ 3 nào thì đồng thời với việc giám định
giám định viên phải hướng dẫn người được bảo hiểm tién hành các thủ tục pháp lí cần thiết
để có thể đòi bồi thường từ bên thứ 3 đó như làm công văn dự kháng hoặc công văn khiếu
nại gửi bên thứ ba đó, mời đại diện của họ cùng tham gia giám định để xác định mức độ
thiệt hại.
Trong quá trình giám định, người được bảo hiểm hoặc người đại diện của người
được bảo hiểm phải có mặt và kí xác nhận về những lời khai của mình và những chứng từ
đã cung cấp cho giám định viên nhằm phục vụ cho công tác giám định.
Trong quá trình giám định phải tạo bầu không khí tin cậy và hợp tác giữa người
được bảo hiểm và giám định viên nhưng tuyệt đối không đưa ra bất kì cam kết nào về số
tiền bồi thường hoặc thông báo cho khách hàng về cách tính toán số tiền bồi thường để
tránh tránh trường hợp khách hàng che dấu những thông tin cần thiết hoặc cung cấp các
thông tin sai lệch.
Để thực hiện được đày đủ mục đích của công tác giám định như đề cập ở trên,
người giám định viên phải có phẩm chất trung thực, khách quan, có hiểu biết về đối tượng
tài sản cần giám định và phải hiểu biết sâu sắt về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm mà
hạng mục tài sản tổn thất đang được bảo hiểm theo những điều kiện và điều khoản đó
trong đó tiêu chuẩn sau cùng là điều kiện tiên quyết đối với bất kì giám định viên nào và
đây là tiêu chuẩn để phân biệt giữa một giám định viên thông thường và một giám định
viên bảo hiểm vì chỉ có như vậy người giám định viên mới biết cần phải thu thập những
thông tin hoặc chứng từ gì nhằm phục vụ cho việc xác định tổn thất và tính toán số tiền bồi
thường thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
Trong trường hợp tổn thất phức tạp phải trưng cầu giám định của các cơ quan chức
năng hoặc cơ quan giám định độc lập mà những cơ quan này không phải là các công ty
giám định và tính toán tổn thất chuyên về bảo hiểm thì các công ty bảo hiểm vẫn phải cử
cán bộ chuyên trách giám định để phối hợp với các cơ quan này điều tra thu thập các thông
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét