Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Quản lý việc nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Phủ Giáo ,Bình Dương



sư phạm, đồng thời xây dựng 100% trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia vào năm 2010 theo
chương trình hành động của Tỉnh. Vì vậy đòi hỏi giáo dục tiểu học ở huyện phải phấn đấu
nhiều hơn nữa, trước hết là phải nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ giáo viên tiểu học, xem
công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng giáo viên là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu quyết định

việc thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục của Tỉnh và huyện đã đề ra. Từ những lý do trên, đề
tài “Quản lý việc nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Phú Giáo, tỉnh Bình
Dương” được nghiên cứu thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá đúng thực trạng về trình độ đội ngũ giáo viên
tiểu học ở huyện, từ đó đề xuất một số biện pháp hướng đến việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, nhằm đáp ứng yêu cầu
đổi mới giá
o dục.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu.
Đội ngũ giáo viên tiểu học và cán bộ quản lý giáo dục ở huyện Phú Giáo.
3.2. Đối tượng nghiên cứu.
Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên t
iểu học huyện Phú
Giáo, tỉnh Bình Dương.
4. Giả thuyết khoa học.
Do yêu cầu nâng dần trình độ nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên tiểu học 100% đạt chuẩn,
nhiều giáo viên tiểu học có trình độ Cao đẳng sư phạm và Đại học sư phạm; nên việc đánh giá
và phân tích đúng đắn thực trạng về đội ngũ giáo viên tiểu học tại huyện Phú Giáo là cần thiết
để có thể đề xuất những biện pháp phù hợp nhằm
nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên tiểu học
một cách toàn diện.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1. Nghiên cứu tài liệu để hình thành cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ và nâng
cao trình độ đội ngũ giáo viên tiểu học.
5.2. Phân tích đánh giá thực trạng về trình độ đội ngũ giáo viên tiểu học; Trên cơ
sở đó đề xuất một số biện pháp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên.
6. Phương pháp nghiên cứu.
Trong đề tài này, các phương pháp dưới đây được sử dụng:


6.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Hệ thống hóa và phân tích các tài liệu lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên, quản lý việc
nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên tiểu học.
- Phân tích các nghị quyết, các văn bản quy phạm pháp luật và tham khảo các công trình
nghiên cứu có liên quan.
Qua đó xây dựng cơ sở lý luận và định hướng các phương pháp nghiên cứu của đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến.
6.3. Phương pháp thống k
ê toán học, ứng dụng phần mềm SPSS for Win để xử lý
số liệu.


Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Bác Hồ rất quan tâm đến chất lượng giáo dục, đặc biệt là đội ngũ thầy cô giáo, Người đã
chỉ rõ: “Vấn đề then chốt, quyết định chất lượng giáo dục là phải xây dựng được đông đảo
những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm s
óc, giáo
dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để thực sự là tấm
gương sáng cho học sinh noi theo”. Người luôn luôn đánh giá cao vai trò của thầy giáo, cô giáo
trong xã hội mới, coi họ là lớp người vẽ vang của đất nước, vì nếu không có cô giáo, thầy giáo
hết lòng dạy dỗ con em nhân dân lao động ngày hôm nay thì không thể xây dựng được một xã
hội tốt đẹp trong tương lai, như mọi người m
ong muốn. [14, tr.183]
Để giáo dục và đào tạo phát triển thì một trong những nhân tố quan trọng là cần nâng cao
chất lượng cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên, “tập trung vào việc đào tạo, bồi dưỡng và quản
lý tốt đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các cấp…theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa…”.
Xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý bảo đảm số lượng, cơ cấu cân

đối, đủ đức, đủ tài, cùng với đội ngũ nhà giáo và toàn xã hội chấn hưng nền giáo dục nước nhà.
Cụ thể học các Nghị quyết của đảng về giáo dục-đào tạo ngày 11 tháng 1 năm 2005 Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 09/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án ”xây
dựng, nâng cao chất lượng đội n
gũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010”.
[20, tr.233]
Mục tiêu của đề án.
Xây dựng đội ngũ nhà giáo (ĐNNG) và cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) theo hướng
chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng
nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ
chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi
hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công
cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước .
Các nhiệm vụ chủ yếu.
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng (ĐTBD) nhà giáo thuộc các cơ sở giáo dục, dạy
nghề công lập và ngoài công lập, bảo đảm đến năm 2010 đáp ứng đủ về số lượng, trong đó có
80% giáo viên bậc mầm non, 100% giáo viên (GV) các cấp, bậc phổ thông, dạy nghề đạt chuẩn
trình độ theo quy định; 10% giáo viên trung học phổ thông và dạy nghề đạt trình độ sau đại


học; tỷ lệ bình quân giữa số lượng sinh viên và giảng viên đại học, cao đẳng là 20 sinh viên
(SV/1 giảng viên); 40% giảng viên đại học có trình độ thạc sĩ và 25% có trình độ tiến sĩ .
- Củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống các trường, khoa sư phạm, các trường CBQLGD,
đẩy mạnh việc xây dựng các trường Đại học sư phạm trọng điểm. Thực hiện đổi mới nội dung,
chương trình, phương pháp giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng trong các trường, các cơ sở đào tạo,
bồi dưỡng sư phạm t
heo hướng hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, trong đó chú trọng
đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo bồi dưỡng gắn với nội dung đổi mới chương trình giáo
dục phổ thông.
- Triển khai có hệ thống và chuẩn hoá công tác đào tạo bồi dưỡng giảng viên các trường
Đại học, Cao đẳng và giáo viên các trường Trung học chuyên nghiệp dạy nghề, bảo đảm c
ho
các nhà giáo được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm theo quy định của luật giáo dục ; nội dung,
chương trình, phương pháp đào tạo phải phù hợp với yêu cầu của từng bậc bọc.
- Đổi mới công tác quản lý nhà giáo và CBQLGD theo hướng nâng cao chất lượng hiệu
quả; quy định cụ thể trách nhiệm, quyền hạn của các cấp, các ngành các cơ quan quản lý giá
o
dục và các ngành có liên quan, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là thanh tra
chuyên môn. Hiện đại hóa và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống quản lý
giáo dục.
- Tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện và thực hiện chính sách ưu đãi đối với nhà giáo và
CBQLGD, khuyến khích đội ngũ nhà giáo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đẩy
mạnh sự gắn kết chặt chẽ giảng dạy với nghiên cứu khoa học; đổi mới công tác quản lý,
sử
dụng và giao biên chế ngành giáo dục nhằm nâng cao quyền và trách nhiệm của đội ngũ nhà
giáo, tạo sự bình đẳng giữa các loại hình cơ sở giáo dục và đào tạo.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo, CBQLGD. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội, vai
trò, trách nhiệm của nhà giáo và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo, CBQLGD có chất lượng
cao, giỏi về chuyên m
ôn nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tụy với nghề nghiệp, làm trụ cột
thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Từ những quan điểm nêu trên, chúng ta thấy vấn đề cơ bản là xây dựng và và phát triển đội
ngũ giáo viên, nói chung, đội ngũ giáo viên tiểu học nói riêng từ nay đến năm 2010 là rất quan
trọng, hay nói cách khác là góp phần quyết định cho sự phát triển CNH-HĐH đất nước một
cách bền vững.


1.2. Cơ sở lý luận về giáo dục tiểu học.
1.2.1. Giáo dục Tiểu học.
Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội, chúng ta nhận thấy rằng bất cứ một chế độ xã hội nào
giáo dục cũng có vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển toàn diện của con người cũng như
sự phát triển bền vững của một quốc gia: ở Trung Quốc, Ông Đặng Tiểu Bình đã phát biểu:
“Phải tìm
mọi cách để giải quyết tốt vấn đề giáo dục, cho dù ở các mặt khác phải nhẫn nại một
chút, thậm chí hy sinh một chút về tốc độ”, “Kế hoạch lớn trăm năm phải lấy giáo dục làm gốc”
và “Giáo dục phải phục vụ xây dựng Chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải dựa vào
giáo dục”. [1, tr.8
]
Bậc tiểu học: Trẻ em thường vào lớp 1 lúc sáu tuổi. Bậc tiểu học kéo dài 5 năm, chỉ có một
số nước là 6 năm, ở đây trẻ em được học và giáo dục để có cơ sở tiếp tục học lên. Mục tiêu
của trường tiểu học là truyền thụ cho tất cả học sinh những cơ sở để tiếp tục giáo dục ở các
trường trung học. Như vậy, trường tiểu học phấn đấu thúc đẩy sự phát triển nhân cách của trẻ,
khơi vậy những hứng thú và năng lực như tưởng tượng, sáng kiến, tự lập và hợp tác xã hội,

tăng cường niềm vui học tập…
- Nhật Bản đã nhiều lần làm cải cách giáo dục theo hướng hiện đại hóa và nhân văn hóa,
nên luôn xếp vào những nước hàng đầu về chất lượng và hiệu quả giáo dục.
- ở Thái Lan: Xác định giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với trẻ em
từ 6 đến 11
tuổi, với 6 năm giáo dục cơ sở, đồng thời, cải cách công tác phát triển giáo viên. Hội đồng Bộ
trưởng Văn phòng cải cách đào tạo giáo viên (TERO) được thành lập năm 1997, qua kế hoạch
phát triển giáo viên đã đánh giá lại toàn bộ hệ thống đào tạo giáo viên và nhằm cập nhật những
kỹ năng giảng dạy, TERO đã hình thành như một ưu tiên hàng đầu trong một nghề đáng kính
trọng ở Thái. Điều này có thể nhận ra qua việc đào tạo lại giáo viên đang giảng dạy và nhận
những học viên có kết quả ưu tú trở thành giáo viên.
Qua những nội dung trên phần nào nói lên tầm
quan trọng của giáo dục trong mọi thời đại,
đặc biệt là vai trò của giáo dục nói chung và của đội ngũ nhà gi
áo nói riêng.
Giáo dục tiểu học là cấp học phổ cập nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo
đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập trong cả nước (điều 11 Luật giáo dục 2005)
Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp 1 đến lớp 5. Tuổi của học
sinh vào lớp 1 là sáu tuổi (theo mục a điều 26 của l
uật giáo dục 2005).


Theo điều 2 luật phổ cập giáo dục tiểu học: “Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ
thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm
mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ bản ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân
cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Giáo dục t
iểu học (Primary Education) đã có lịch sử phát triển rất lâu trên thế giới, nhưng
cho đến nay vẫn có những quan niệm khác nhau về khái niệm giáo dục tiểu học.
- Quan niệm thứ nhất.
Coi tiểu học (Primary) là bậc học cơ sở nhằm chuẩn bị cho trẻ ra trường tham gia lao động
sản xuất, học nghề hoặc học tiếp lên trung học.
- Quan niệm thứ hai.
Đa số các nước (cả các nước đã và đang phát triển) đã có truyền thống giáo dục lâu đời
như Pháp, Nhật, v.v. Cho đến nay vẫn coi tiểu học là bậc học vừa ch
uẩn bị cho một bộ phận
học sinh ra trường tham gia sản xuất, vừa chuẩn bị cho một bộ phận học sinh học tiếp lên. Tùy
điều kiện và truyền thống của mỗi nước mà số năm học tiểu học là 5 hoặc 6 năm.
- Quan niệm thứ ba.
Một số nước đã tuyên bố hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, đang thực hiện phổ cập
giáo dục 9 năm h
oặc 11 năm, coi tiểu học là cấp học thuần tuý, cấp học chuẩn bị cho toàn bộ
học sinh học tiếp lên. Vì vậy, không cần dạy những nội dung có tính hoàn chỉnh, do đó thời
gian dành cho tiểu học chỉ có 3 hoặc 4 năm.
Theo mục 2- Giáo dục phổ thông, điều 26 Luật giáo dục 2005 ở nước ta có nêu.
- Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến lớp 5. Tuổi của học sinh
vào lớp 1 là sáu tuổi.
Như vậy, cho dù có những quan niệm
khác nhau về giáo dục tiểu học, giáo dục tiểu học ở
đa số các nước vẫn là một bậc học, phản ảnh trình độ học vấn của một bộ phận dân cư, thậm chí
của số đông dân cư ở một số vùng lãnh thổ hay một số vùng quan trọng t
rong hệ thống giáo dục
quốc dân nói chung và hệ thống giáo dục phổ thông nói riêng.
1.2.2 Vị trí vai trò, tầm quan trọng của bậc tiểu học.
* Vị trí của trường tiểu học.
Vị trí của trường tiểu học được xác định trong điều 2 của điều lệ trường Tiểu học: “Trường
tiểu học là cơ sở giáo dục của bậc tiểu học, bậc học tiểu học, bậc học nền tảng của hệ thống
giáo dục quốc dân. Trường tiểu học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng”.


Theo Luật giáo dục: Giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14
tuổi, được thực hiện trong 5 năm học từ lớp 1 đến lớp 5, tuổi vào lớp 1 là 6 tuổi.
* Mục tiêu và nội dung của giáo dục tiểu học.:
Theo Luật giáo dục: Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các
kỹ năng cơ bản để học sinh học tiếp cấp trung học cơ sở.
Mục tiêu chung của bậc tiểu học là xây dựng bậc học lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc,
phát triển bền vững và cơ bản đạt trình độ tiên tiến. Và cần đạt mục tiêu cụ thể như:
- Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.
- Nâng cao chất lượng toàn diện.
+ Chuẩn bị tốt cho học sinh tiểu học đến năm
2010 hầu hết học sinh học ngày 2buổi/ ngày.
+ Chuẩn bị đủ điều kiện để hoàn thành việc đổi mới giáo dục phổ thông, cả về nội dung và
phương pháp giảng dạy.
+ Giáo viên phải dạy đủ các mô
n bắt buộc và môn tự chọn.
+ Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.
Đối với bậc giáo dục tiểu học, Đảng và Nhà nước đã nêu.
+ Tiểu học là bậc học phổ cập, bắt buộc.
Năm 1991, nước ta đã có Luật phổ cập giáo dục tiểu học, khẳng định sự cam kết của Nhà
nước về một bậc giáo dục tiểu học bắt buộc và miễn phí cho mọi trẻ em.
+ Về mạng lưới trường lớp.
Thực hiện phương c
hâm xã hội hoá giáo dục: “Nhà nước và nhân dân, trung ương và địa
phương cùng làm”. Từ đó sự nghiệp giáo dục tiểu học trong cả nước luôn có sự phát triển rất
đáng kể.
* Nhiệm vụ và quyền hạn của trường tiểu học.
+ Nhiệm vụ.
- Tổ chức việc giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình giá
o
dục tiểu học do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành.
- Tổ chức việc huy động trẻ em đúng độ tuổi vào lớp 1, vận động trẻ em bỏ học đến
trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học và tham gia hoạt động xoá mù chữ ở địa
phương.
+ Quyền hạn.


- Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh.
- Quản lý sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp
luật.
- Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong cộng đồng để thực hiện các hoạt
động giáo dục.
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong phạm
vi cộng đồng ở địa phương.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác như quy định của chính quyền địa phương
đúng t
heo quy định của pháp luật.
1.2.3. Giáo viên tiểu học, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý việc đào tạo, bồi
dưỡng giáo viên tiểu học.
* Giáo viên tiểu học và vai trò của họ.
- Giáo viên tiểu học có những đặc điểm hoạt động cơ bản mà chúng ta cần quan tâm khi
đào tạo, bồi dưỡng cũng như quản lý sử dụng họ.
+ Là người trang bị kiến thức ban đầu về nhiều bộ m
ôn khoa học cơ bản cho học sinh.
Trong giai đoạn hiện nay, trên thực tế giáo viên tiểu học còn kiêm dạy cả các môn năng khiếu:
Nhạc, Hoạ, Thể dục, (nếu trường không có giáo viên bộ môn). Điều đó đòi hỏi họ phải học
tập, rèn luyện rất nhiều mới có thể đáp ứng được yêu cầu.
+ Là người thầy đầu tiên của người học sinh, ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành
nhân cách ban đầu cho những chủ nhân tương lai của đất nước. Đây l
à giai đoạn hình thành
nhân cách và khắc dấu sâu đậm của người học sinh từ sự giáo dục của giáo viên, do vậy vai trò
của họ rất lớn trong hệ thống giáo dục phổ thông.
+ Phương pháp giảng dạy mới có phát huy được trí lực học sinh hay không cũng bắt đầu
từ giáo viên tiểu học.
+ Mối quan hệ giữa giáo viên với địa phương và cha mẹ học sinh khá chặt chẽ là điều kiện
để phối hợp giáo dục học sinh. Do vậy, nên người giáo viên tiểu học phải nhiệt tình, đặc biệt là

năng lực giao tiếp, ứng xử trong các quan hệ.
- Vai trò của người giáo viên tiểu học.
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục tiểu học (điều 27 Luật giáo dục 2005).


Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển
đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh
tiếp tục học ở cấp trung học cơ sở.
Vì thế người giáo viên tiểu học có vai trò cụ thể như sau.
- “Là lực lượng giáo dục chính, giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động giáo dục, tổ chức
quá trình phát triển của trẻ em bằng phương thức nhà trường” (theo QĐ 295/QĐ-BGDĐT ngày
11/10/94 của Bộ GDĐT).
- Đặc điểm
nghề dạy học ở Tiểu học là: “Nghề đậm đặc tính sư phạm, nghề dạy học ở tiểu
học có những điểm giống nghề dạy học ở các bậc học khác không cần hoặc không có được”.
Người giáo viên tiểu học vừa dạy các bộ m
ôn, vừa là giáo viên chủ nhiệm, quản lý trực
tiếp, toàn diện học sinh của lớp mình phụ trách, chịu trách nhiệm về chương trình giảng dạy,
phối hợp với các giáo viên năng khiếu, giáo viên tổng phụ trách đội để hoàn thành kế hoạch
giáo dục. Ngoài ra, giáo viên tiểu học còn phải luôn luôn học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ,
để đạt và vượt tiêu chuẩn do Bộ giáo dục và Đào tạo quy định.
1.2.4. Quản lý đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo vi
ên tiểu học.
* Khái niệm quản lý.
Lịch sử đã chứng minh rằng, để tồn tại và phát triển ngay từ khi loài người xuất hiện trên
trái đất, con người đã liên kết nhau thành các nhóm nhằm chống lại sự tiêu diệt của thú dữ và
thiên nhiên: Trong quá trình đó đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối được n
gười
khác, đồng thời cũng có khả năng điều khiển mọi hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với
mục tiêu chung. Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý các nhóm.
Vì vậy, quản lý xuất hiện từ rất sớm, tồn tại và phát triển đến ngày nay. Hoạt động của con
người ngày càng đa dạng nên quản lý cũng đa dạng và phong phú.
Hay “Quản lý” là từ Hán Việt được ghép giữa “Quản và lý”.
- Quản: Là trông coi, chăm sóc, giữ gìn- duy trì ở trạng thái ổn định.
- Lý: Là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển.
Như vậy “Quản lý” là trông coi chăm sóc, sửa sang làm
cho nó ổn định và phát triển.
+ Theo từ điển tiếng Việt ”Quản lý” là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ
thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức n
hằm đạt mục đích nhất
định.
Từ các khái niệm trên, chúng ta thấy có một số điểm thống nhất.


- Trong quản lý có người chỉ huy, điều khiển. Con người, đồ vật hoặc sự việc bị chỉ huy, bị
điều khiển. Hai đối tượng này tác động qua lại và quy định lẫn nhau.
- Trong quản lý phải có mục đích, nhiệm vụ hoạt động chung. Vậy chúng ta thấy hệ thống
quản lý gồm có hai hệ liên kết nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản
lý.
* Quản lý giáo dục.
Quản lý gi
áo dục là một loại hình quản lý xã hội. Dựa vào khái niệm “Quản lý” một số nhà
nghiên cứu về giáo dục đưa ra nhiều định nghĩa về quản lý giáo dục; một số định nghĩa điển
hình như sau.
Theo ông Lê Du Phong: Quản lý nhà nước về giáo dục là quản lý theo ngành do một cơ
quan Trung ương đại diện cho nhà nước là Bộ giáo dục và đào tạo thực hiện. đó là việc xây
dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách phát triển giáo dục- đào tạo của đất
nước, phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội nước nhà và của thời đại cũng như tổ chức thực
hiện thành công các vấn đề đó,
nhằm nâng cao không ngừng trình độ dân trí của dân và tạo cho
đất nước một đội ngũ nhân lực có trình độ cao, bảo đảm t
hực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hóa- hiện đại hóa.
Ông Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường
lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục
tới mục ti
êu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.
Ông Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên
lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục ti
êu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ
trẻ và từng học sinh”.
Trong trường hợp này chủ thể quản lý ngành giáo dục là Bộ giáo dục.
- Mặc dù những định nghĩa trên có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng đều nêu lên bản
chất của quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có tính định hướng của chủ thể quản lý
lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm t
hực hiện có hiệu quả mục
tiêu giáo dục trong một môi trường luôn biến động.
Các thành tố đó là:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét