Thứ hai: nó có tính cố định về hình dáng kiến trúc và kết cấu cũng nh
trang thiết bị nên khó thay đổi. Muốn cải tạo, nâng cấp thay đổi kiến trúc cũng
khó khăn và tốn kém.
Thứ ba: nhu cầu về nhà ở rất phong phú tuỳ thuộc vào sở thích cũng nh
khả năng của từng đối tợng. Hơn thế nhu cầu này còn thay đổi theo sự phát triển
của nền kinh tế xã hội.
Thứ t: đối với các khu đô thị thì nhà ở là một bộ phận quan trọng và chủ
yếu nằm trong cơ sở hạ tầng đô thị mà cụ thể là cơ sở hạ tầng xã hội. Do vậy,
mặc dù là sản phẩm phục vụ cho cá nhân nhng nhà ở lại có tác động mạnh mẽ
đến bộ mặt đô thị và đồng thời cũng chịu tác động trở lại của đô thị nh: giao
thông, hệ thống cấp thoát nớc, điện, thông tin liên lạc ảnh h ởng đến cuộc sống
và điều kiện sinh hoạt của những ngời trong ngôi nhà.
1.2.2.Đầu t phát triển nhà ở đô thị.
Trong xã hội có hai cách để giải quyết nhu cầu về nhà ở. Đó là nhu cầu tự
xây dựng và lập những tổ chức hay đơn vị chuyên môn sản xuất loại hàng hoá
này và cung ứng cho thị trờng.
Cách thứ nhất, quá trình xây dựng gắn liền với việc một diện tích đất nhất
định bị mất đi vì lợi ích của một hay một nhóm cá nhân. Điều này không nên và
không thể tồn tại ở những khu đô thị vì tại đây mật độ dân số rất đông và tăng
lên không ngừng trong khi quỹ đất lại có hạn. Hình thức này chỉ phù hợp với
vùng nông thôn nơi không bị sức ép về dân số cũng nh diện tích đất.
Cách thứ hai, nhà ở thực sự trở thành một thứ hàng hoá đợc tạo ra nhờ
quá trình đầu t. Đây cũng chính là hoạt động đầu t phát triển vì nó tạo ra tài sản
mới cho xã hội, hơn nữa đó còn là một tài sản đặc biệt quan trọng. Thông qua
đầu t phát triển nhà ở tại đô thị mà đất đai đợc sử dụng có hiệu quả, cung cấp
chỗ ở cho đông đảo dân c một cách bình đẳng, giúp cho họ ổn định chỗ ở để có
thể yên tâm lao động, đóng góp vào sự tăng trởng và phát triển chung của xã
hội.
Một số đặc điểm của hoạt động đầu t phát triển nhà ở:
5
Đối tợng tham gia tiến hành đầu t: Nhà nớc, các doanh nghiệp trong và
ngoài ngành xây dựng, các đơn vị kinh tế và các tổ chức xã hội đầu t với mục
đích thu đợc lợi ích tài chính hoặc kinh tế xã hội.
Nguồn vốn đầu t: vì nhà ở vừa là quyền của mỗi cá nhân đồng thời cũng
là trách nhiệm của toàn xã hội nên nguồn vốn đầu t đợc huy động từ mọi nguồn
trong xã hội nh ngân sách Nhà nớc, vốn tự có của doanh nghiệp kinh doanh, của
các tổ chức tín dụng, của chính những ngời có nhu cầu và những nguồn khác
Loại hình đầu t: do nhu cầu và khả năng của mọi ngời là khác nhau nên
đầu t xây dựng nhà ở cũng rất phong phú: cho ngời có thu nhập thấp hay thu
nhập cao, sinh viên, gia đình quy mô nhỏ hay lớn, theo hình thức bán đứt hay
cho thuê .
Sử dụng một nguồn lực lớn và liên quan đến nhiều ban, ngành khác
nhau.
Nh vậy đầu t phát triển nhà ở là một hoạt động không thể thiếu đối với mỗi
đô thị nói riêng và với mỗi nền kinh tế thị trờng nói chung. Nó vừa ảnh hởng,
vừa phản ánh những đặc điểm về kinh tế - xã hội của một độ thị trong những
giai đoạn nhất định.
1.3 Các nhân tố cơ bản tác động đến đầu t phát triển nhà ở:
1.3.1. Các nhân tố cơ bản tác động đến đầu t phát triển nhà ở.
Cũng nh các hoạt động đầu t phát triển khác, đầu t phát triển nhà ở cũng
chịu sự tác động của các nhân tố của môi trờng vi mô và vĩ mô, chủ quan và
khách quan, các yếu tố kinh tế xã hội và của môi trờng đầu t Sự thay đổi
của các nhân tố này lúc tác động tiêu cực nhng cũng có lúc tác động tích cực
đến hoạt động đầu t. Có thể kể đến những nhân tố cơ bản sau:
Lãi suất. Đây đợc coi là một yếu tố nội sinh tác động trực tiếp tới sự gia
tăng hay suy giảm cầu đầu t, đặc biệt là lĩnh vực đầu t xây dựng vì sử dụng một
lợng vốn lớn. Khi lãi suất giảm tức là chi phí sử dụng vốn giảm và sẽ khuyến
khích các nhà đầu t vay tiền từ ngân hàng để tiến hành hoạt động đầu t tạo ra
nhiều sản phẩm cho xã hội và ngợc lại. Với khả năng ảnh hởng mạnh mẽ đến
6
cầu đầu t, hiện nay lãi suất là một công cụ quản lý kinh tế quan trọng của Nhà
nớc. Thông qua việc kiểm soát có giới hạn lãi suất của thị trờng Nhà nớc có thể
tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế. Hơn nữa Nhà nớc còn sử dụng các mức lãi
suất u đãi khác nhau nh một biện pháp kích thích đối với những lĩnh vực cụ thể
phụ thuộc vào chính sách u tiên phát triển kinh tế trong từng thời kỳ. Đối với
nhà ở trong thời kỳ bao cấp thì sẽ do Ngân sách đài thọ hoàn toàn nhng chuyển
sang nền kinh tế thị trờng để khuyến khích sự tham gia của mọi thành phần
kinh tế Nhà nớc có thể áp dụng lãi suât u đãi cho các dự án đầu t vào lĩnh vực
này để nhanh chóng tạo ra một quỹ nhà lớn phục vụ nhu cầu của ngời dân.
Tỷ suất lợi nhuận bình quân. Đây là một nhân tố khách quan vừa phản
ánh trong mỗi thời kỳ thì đầu t vào ngành nào là có lợi, mặt khác nó cũng điều
tiết đầu t từ ngành này sang ngành khác. Khi tỷ suất lợi nhuận bình quân của
một ngành cao hơn ngành khác cũng có nghĩa đầu t vào ngành đó có khả năng
thu đợc lợi nhuận cao hơn và kích thích các nhà đầu t bỏ vốn vào đây. Trong tr-
ờng hợp đầu t bằng vốn vay thì tỷ suất lợi nhuận bình quân là giới hạn trên của
lãi suất vay vốn. Nhà ở đang là lĩnh vực đợc Nhà nớc khuyến khích đầu t và tạo
nhiều điều kiện thuận lợi thông qua chủ trơng xã hội hoá vấn đề nhà ở, một
mặt thu hút sự tham gia của mọi thành phần trong xã hội, mặt khác giảm gánh
nặng cho ngân sách Nhà nớc. Những chính sách nh cho chậm nộp tiền thuê đất,
hay thậm chí miễn tiền thuê đất khi xây dựng nhà ở cao tầng, áp dụng mức thuế
u đãi, hỗ trợ một số hạng mục công trình (hạ tầng xã hội và kỹ thuật) của Nhà
nớc thời gian qua cộng với sự buông lỏng quản lý trong lĩnh vực đất đai và xây
dựng đã làm tăng đáng kể tỷ suất lợi nhuận của hoạt động đầu t xây dựng nhà,
đặc biệt là ở những thành phố lớn trong đó có Hà nội.
Chu kỳ kinh doanh là dao động của nền kinh tế theo thời gian, trong đó
trải qua hai giai đoạn đặc trng là đỉnh và đáy. nếu nh đỉnh là giai đoạn cực thịnh
của nền kinh tế thì ngợc lại đáy là thời kỳ suy thoái, mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh đều đình trệ. Nh chúng ta đã biết một đặc trng cơ bản của nền kinh
tế thị trờng là các hoạt động kinh tế đều có mối liên hệ nhất định với nhau, đến
toàn bộ nền kinh tế và ngợc lại. Nhà ở mặc dù là nhu cầu thiết yếu nhng để thoả
7
mãn cũng đòi hỏi một lợng tài chính không nhỏ, do vậy kinh doanh trong lĩnh
vực này sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi nền kinh tế đang trên đà phát triển, thu
nhập của ngời lao động đợc nâng lên và có khả năng chi trả cho những nhu cầu
cao nh nhà ở.
Ngoài ra còn nhiều nhân tố khác tác động đến đầu t nói chung và đầu t nhà
ở nói riêng nh mức độ rủi ro, tính chất của thị trờng (cạnh tranh hay độc quyền),
chính sách của Nhà nớc Mọi nhân tố cần phải đ ợc xem xét, đánh giá trong
môi liên hệ phong phú đa dạng của môi trờng đầu t để nhà đầu t có thể đa ra
những chiến lợc và giải pháp thích hợp trong những giai đoạn cụ thể.
1.3.2 Đặc điểm của Hà nội và những yếu tố ảnh h ởng đến đầu t phát
triển nhà ở.
Bên cạnh việc chịu ảnh hởng của những nhân tố trên, đầu t phát triển nhà ở
tại Hà nội còn chịu sự tác động của các yếu tố cụ thể khác xuất phát từ đặc
điểm của thủ đô, một trung tâm kinh tế chính trị lớn của cả nớc.
Thứ nhất, với vị trí là một Thủ đô, mật độ dân số của Hà nội lớn và không
ngừng tăng lên chủ yếu do tăng cơ học dẫn đến sức ép lớn về nhu cầu nhà ở.
Hơn nữa nhu cầu lại rất phong phú nh cho đối tợng chính sách, ngời có thu nhập
cao, trung bình và thấp, cho sinh viên, cho ngời lao động ngoại tỉnh c trú tạm
thời hay định c dài hạn .Tuy nhiên trong số này nhà ở cho ng ời thu nhập thấp
và trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 60 đến 70%, đây là những đối tợng ít
hoặc không có khả năng sở hữu đất riêng để tự lo chỗ ở. Đây chính là thuận lợi
cho các đơn vị kinh doanh nhà để xây dựng những chung c cao tầng với chi phí
thấp vừa tiết kiệm diện tích đất, vừa tranh thủ đợc chính sách khuyến khích của
Thành phố và đặc biệt có thể nói là không phải lo đầu ra.
Thứ hai, đầu vào cho hoạt động đầu t xây dựng nhà ở Hà nội cũng rất
thuận lợi. Đó là nguồn vốn dồi dào đang ứ đọng trong các Ngân hàng thơng
mại. Lợng tiền tiết kiệm trong dân chúng, thị trờng nguyên vật liệu đa dạng về
chủng loại và giá cả, máy móc thiết bị sử dụng trong ngành xây dựng thuộc loại
hiện đại của Việt nam, đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân có trình độ cao đến
từ khắp các địa phơng trong cả nớc. Tất cả các yếu tố đó làm cho Hà nội có khả
8
năng đảm nhiệm những công trình nhà ở với quy mô lớn phù hợp với những khu
đô thị văn minh hiện đại.
Thứ ba, đầu t phát triển nhà ở Hà nội còn nhận đợc sự hớng dẫn, hỗ trợ
thiết thực của UBND Thành phố và Trung ơng thông qua các chủ trơng chính
sách nh chơng trình số 12 về phát triển nhà ở Hà nội đến 2000 và 2010, pháp
lệnh Thủ đô vừa đợc công bố ngày 11/1/2001, Quyết định của UBND Thành
phố về ban hành Quy định thực hiện u đãi đầu t xây dựng nhà ở để bán và cho
thuê trên địa bàn Thành phố Hà nội năm 2002 .những chính sách, cơ chế này
đang ngày càng tạo ra một môi trờng pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu t phát
triển nhà ở vốn nhạy cảm và mang tính xã hội cao, liên quan đến quyền lợi và
nghĩa vụ của nhiều đối tợng trong xã hội.
Thứ t, địa bàn Thủ đô còn là nơi tập trung nhiều đơn vị xây dựng bao gồm
các công ty và tổng công ty lớn nh Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng
(VINACONEX), Công ty đầu t phát triển hạ tầng đô thị, Công ty tu tạo và phát
triển nhà, Tổng công ty xây dựng Sông Đà, Tổng công ty đầu t và phát triển nhà
Hà nội Đây là những đơn vị mạnh, có truyền thống trong ngành xây dựng của
Việt nam, có đóng góp lớn lao đối với sự nghiệp xây dựng đất nớc trớc kia cũng
nh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. Với tiềm lực
sẵn có cộng với kinh nghiệm lâu năm chắc chắn đây sẽ là những đơn vị xứng
đáng đảm trách vai chủ đấu t trong sự nghiệp phát triển nhà ở của Thủ đô thời
gian tới.
2. Vốn và nguồn vốn phát triển nhà ở:
2.1 Vốn đầu t:
Trên thế giới hiện tồn tại một số khái niệm, định nghĩa không hoàn toàn
giống nhau về vốn đầu t. Tuy nhiên nếu xét theo nguồn hình thành và mục tiêu
sử dụng ta có khái niệm vốn đầu t nh sau:
Vốn đầu t là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh,
dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân c và vốn huy động từ các nguồn khác đợc đa
9
vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội, nhằm duy trì tiếm lực sẵn có và
tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
2.2 Nguồn vốn đầu t phát triển nhà ở:
Với chủ trơng do chơng trình 12 đề ra là phát triển nhà ở theo mô hình dự
án, đảm bảo sự đồng bộ thống nhất trong kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội
hoàn chỉnh, đầu t phát triển nhà ở tại Hà Nội đã trở thành một sự nghiệp chung
đòi hỏi nguồn vốn lớn mà không một đối tợng nào có thể tự mình đứng ra đảm
trách mà phải có sự phối hợp nhiều nguồn nhau: Nhà nớc, các tổ chức tài chính,
tín dụng, các doanh nghiệp, ngời dân Việc huy động mỗi nguồn vốn này có
những đặc điểm riêng đòi hỏi phải có sự phối hợp linh hoạt khai thác điểm hạn
chế nhợc điểm để đầu t phát triển nhà ở tại Hà Nội đạt đợc hiệu quả cao nhất.
10
Sơ đồ sử dụng các nguồn vốn xây dựng nhà ở mới
gdfg
Đứng trên giác độ chủ đầu t thì một dự án phát triển nhà ở hiện nay có thể
huy động vốn từ những nguồn sau:
Ngân sách Thành phố để xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài
hàng rào dự án và những công trình hạ tầng xã hội thiết yếu khác. Đây là trách
nhiệm của Thành phố để cùng phối hợp với chủ đầu t tạo ra quỹ nhà có đồng bộ
hạ tầng kỹ thuật và xã hội.
11
Ngân sách
Nhà nước
Tài trợ của
các tổ chức
nước ngoài
nươ
Tổ chức
Ngân hàng,
Tín dụng
Các quỹ
phát triển
Tổ chức, cá
nhân, doanh
nghiệp
Hạ tầng ngoài hàng
rào các dự án
Hạ tầng trực tiếp + nhà ở
trong hàng rào các dự án
Cho vay xây dựng theo tiêu chí:
lãi suất thấp (0.81%)
thời hạn vay ít nhất 3 5 năm
ấn hạn 1 năm (nếu CP phê duyệt)
Đối tư
ợng
chính
sách
xã hội
Đối tư
ợng
quá
nghèo
Nhà ở
di dân,
GPMB
Nhà
lún nứt
nguy
hiểm
Đối tư
ợng thu
nhập
thấp,
Cán bộ
CNV
Đối
tượng
thu
nhập
cao
Vốn tự có: đây phải đợc xác định là nguồn vốn cơ bản trong bất cứ dự án
nào, quyết định sự thành hay bại.
Vốn vay: nguồn vốn này là không thể thiếu đối với những dự án lớn nh
đầu t phát triển nhà ở.
Vốn huy động từ khách hàng: do nhu cầu về nhà ở của ngời dân rất lớn
cùng với sự cho phép của Thành phố, các chủ đầu t có thể khai thác nguồn vốn
đầy tiềm năng này thông qua hình thức ứng trớc tiền mua nhà.
2.2.1. Nguồn vốn ngân sách nhà n ớc:
Nhà ở là một hàng hóa đặc biệt có hai thuộc tính: hàng hóa và xã hội, tùy
vào những thời điểm kinh tế - xã hội - chính trị khác nhau mà thuộc tính nào đ-
ợc coi trọng hơn và do vậy sẽ do một đối tợng chính trong xã hội đứng ra giải
quyết. Trớc đây trong thời kỳ bao cấp, thuộc tính xã hội đợc đẩy lên cao hơn và
hoàn toàn do NSNN tài trợ. Dần dần khi chế độ bao cấp bị xóa bỏ tính xã hội
cũng vì thế cũng giảm dần và thay vào đó là tính hàng hóa lại tăng lên biểu hiện
bằng sự tham gia của nhiều nguồn vốn hơn nh doanh nghiệp, ngời dân, tổ chức
tín dụng tài chính Đến mô hình phát triển theo dự án nh hiện nay thì vai trò
của 2 thuộc tính là ngang nhau, tuy nhiên Nhà nớc không còn tham gia trực tiếp
nh trớc mà vốn NSNN giữ vai trò nh nguồn vốn mồi, thu hút sự tham gia của
các nguồn vốn, cụ thể đợc dùng đầu t:
+ Xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật chính và hạ tầng xã hội, u tiên đầu t
hỗ trợ cải tạo nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đi liền với
các dự án phát triển nhà ở, đặc biệt là đầu t đồng bộ công trình kỹ thuật ngoài
hàng rào để khai thác đợc ngay dự án.
+ Hỗ trợ xây dựng nhà ở phục vụ các đối tợng đợc hởng chính sách u đãi
trong xã hội có nhu cầu về nhà ở theo kế hoạch hàng năm.
+ Đầu t xây dựng quỹ nhà phục vụ các công tác giải phóng mặt bằng.
+ Thành lập quỹ phát triển nhà của thành phố, hình thành ngân hàng phát
triển nhà ở để tập trung và thu hút các nguồn vốn cho nhà ở không nằm chung
trong quỹ phát triển hạ tầng đô thị.
12
Cấp vốn cho xây dựng kết cấu hạ tầng là trách nhiệm quan trọng của Nhà
nớc để đáp ứng về nhu cầu về chỗ ở. Sở dĩ nh vậy vì đất đai thuộc quyền sở hữu
của toàn dân mà Nhà nớc là đại diện, giá trị của đất sẽ tăng lên rất nhiều nếu đ-
ợc đầu t kết cấu hạ tầng. Đầu t nhà ở theo mô hình dự án chủ yếu đợc tiến hành
trong các khu đô thị mới đã đợc quy hoạch chi tiết, do vậy vốn ngân sách đợc
đầu t để xây dựng các hạng mục công trình xã hội nh trờng học, nhà trẻ, công
viên, cây xanh, trạm y tế, trụ sở hành chính và một số công trình hạ tầng kỹ
thuật mà một chủ đầu t khó đảm đơng vì chủ yếu phục vụ lợi ích công cộng nh
đờng nội và ngoại khu, hệ thống cấp, thoát nớc, điện, chiếu sáng
Xác định đợc vai trò không thể thiếu của nguồn vốn ngân sách, ngay từ
năm đầu triển khai chơng trình 12, thành phố đã chi 114 tỷ đồng cho đầu t phát
triển nhà ở (1998) con số này lại tiếp tục tăng về tuyệt đối qua các năm nh 1999
là 125 tỷ đồng, 2000 là 145 tỷ đồng, 2001 là 201 tỷ đồng, tuy nhiên tỷ trọng
của vốn ngân sách trong tổng vốn ngày càng giảm từ 18%, năm 1998 xuống
12,4% năm 2000. Sự suy giảm của nguồn vốn này một mặt cho thấy vai trò của
nhà nớc trong lĩnh vực này không còn là độc quyền nh trớc mà nhà ở thật sự đã
trở thành một yếu tố của thị trờng bất động sản, mặt khác trong khi sự mở rộng
của các khu đô thị mới diễn ra rất nhanh thì giảm tỷ trọng nguồn vốn ngân sách
cho thấy đang xảy ra tình trạng dàn trải trong sử dụng vốn ngân sách ảnh hởng
đến hiệu quả các dự án nói chung.
2.2.2 Nguồn ngoài n ớc.
Vốn Ngân sách không chỉ có tính chất hỗ trợ cho các dự án mà còn giữ vai
trò chủ đạo trong những công tác mang tính xã hội cao nh giải phóng mặt bằng,
và đặc biệt Hà nội là nơi có đông các đối tợng chính sách đòi hỏi Thành phố
phải có cơ chế sử dụng vốn để đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho các đối tợng này.
Cùng với quá trình phát triển của các khu đô thị mới, hàng năm Thành phố vẫn
trích một phần Ngân sách để đầu t trực tiếp vào phần đất xây dựng mà các chủ
đầu t phải dành lại cho Thành phố (30%) hay hỗ trợ các đối tợng chính sách
mua nhà tại đây.
13
Tính đến đầu năm 2003, riêng trong lĩnh vực nhà ở phục vụ di dân giải
phóng mặt bằng và các đối tợng chính sách trên địa bàn Thành phố đã có 60 dự
án đang triển khai với tổng mức đầu t là 6.853 tỷ đồng, trong đó vốn Ngân sách
cần cân đối là 4.287 tỷ đồng từ 2001 đến 2005
2.2.3. Vốn tự có.
Tham gia vào lĩnh vực kinh doanh nhà ở với t cách là chủ đầu t thì nguồn
vốn tự có là không thể thiếu. Đây là nguồn vốn hợp pháp của chủ đầu t có đợc
do tích lũy từ lợi nhuận sau thuế của hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị,
từ khấu hao cơ bản đợc giữ lại, vốn kinh doanh. Xây dựng nói chung và xây
dựng nhà ở nói riêng là lĩnh vực cần lợng vốn lớn phục vụ cho quá trình từ
chuẩn bị đầu t đến thực hiện đầu t và vận hành dự án. Do vậy hầu hết các chủ
đầu t sử dụng nhiều phơng thức huy động vốn nh: vay ngân hàng, huy động từ
ngời có nhu cầu về nhà ở, phát hành cổ phiếu, trái phiếu công trình, liên doanh
liên kết Sự thành công của phơng thức huy động vốn sẽ quyết định sự thành
công của dự án và chính nguồn vốn tự có sẽ quyết định, làm cơ sở cho việc huy
động thành công các nguồn vốn khác. Sở dĩ vậy vì nguồn vốn tự có hay vốn đối
ứng sẽ quyết định khả năng trả lãi và gốc khi vay, ảnh hởng đến lòng tin của
khách hàng khi ứng trớc tiền cho doanh nghiệp xây dựng nhà, là bằng chứng
cam kết với các đối tác (nhà thầu, cung cấp nguyên vật liệu ).
Trong những năm vừa qua ngành xây dựng Thủ đô đã phát triển không
ngừng đóng góp một phần không nhỏ vào sự tăng trởng chung, tuy nhiên cũng
cần nhìn nhận một thực tế là tiềm lực tài chính của họ cha phải là thế mạnh, cha
xứng với đòi hỏi của những công trình xây dựng nói chung và nhà ở nói riêng
ngày càng hiện đại, tiện nghi. Mặt khác do tranh thủ những u đãi của thành phố
dành cho đầu t phát triển nhà ở nên nhiều chủ đầu t đã cùng một lúc cố gắng
tham gia nhiều dự án khác nhau làm phân tán nguồn vốn tự có vốn đã ít ỏi.
Chính điều này làm tỷ trọng của nguồn vốn này trong tổng vốn đầu t chỉ xấp xỉ
10 đến 13%.
Mặc dù phát triển nhà ở đã đợc Thành phố xác định là sự nghiệp của toàn
xã hội trong đó có xây dựng nhà cho ngời thu nhập thấp dới hình thức bán hoặc
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét