I . Những vấn đề chung về xuất khẩu và xuất khẩu hàng dệt may.
1.Khái niệm chung về xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc
dân.
1.1.Khái niệm xuất khẩu.
Ngoại thơng là sự trao đổi hàng hoá giữa các nớc thông qua mua bán, nó phản ánh mối
quan hệ giữa những nhà sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia tham gia vào
phân công lao động quốc tế.
Xuất khẩu hàng hoá là một trong những hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thơng
là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ ra thị trờng nớc ngoài
Theo khái niệm của thống kê thì xuất khẩu hàng hoá là hàng hoá nớc ta đợc bán ra n-
ớc ngoài theo các hợp đồng ngoại thơng đã đợc xếp lên tàu biển, xe lửa, máy bay và
đợc phép rời biên giới nớc ta. Bao gồm: hàng sản xuất trong nớc, hàng tái xuất và hàng
chuyển khẩu, những hàng hoá nớc ta gửi triển lãm ở nớc ngoài sau đó bán cho nớc đó,
hàng hoá nớc ta bán cho ngời nớc ngoài ở nớc ta và thu bằng ngoại tệ cũng đợc coi là
hàng hoá xuất khẩu.
Nh vậy đợc tính là hàng hoá xuất khẩu bao gồm:
- Hàng hoá đã đợc thuyền trởng kí nhận vận đơn ( nếu vận chuyển bằng đờng biển )
- Hàng hoá đã rời ga biên giới ( nếu vận chuyển bằng đờng sắt )
- Hàng hoá đã đợc cục hàng không dân dụng ký chứng từ ( nếu vận chuyển bằng máy
bay)
Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu không đơn giản nh việc mua bán một sản phẩm nào đó
trên thị trờng mà phức tạp hơn rất nhiều.Thực chất xuất khẩu không chỉ là hành vi buôn
bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ thơng mại có tổ chức nhằm đẩy mạnh
sản xuất hàng hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Hoạt động
xuất khẩu diễn ra trên một phạm vi vô cùng rộng lớn, hàng hoá đợc vận chuyển qua
biên giới giữa các quốc gia với nhau, đồng tiền thanh toán là tiền ngoại tệ và đặc biệt là
mối quan hệ với các bạn hàng là ngời nớc ngoài. Do vậy các nớc khi tham gia vào hoạt
động buôn bán giao dịch quốc tế cần phải hiểu rõ và tuân thủ các thông ớc, các qui
định hiện hành để khai thác lợi thế của đất nớc, phù hợp với xu thế phát triển của nền
5
kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế. Mặt khác phải tính toán lợi thế tơng đối có
thể dành đợc để phát huy hết tiềm năng của mình.
Trong phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu xuất khẩu qua biên giới. Xuất khẩu qua biên giới
bao gồm : xuất khẩu mậu dịch, xuất khẩu phi mậu dịch.
Xuất khẩu mậu dịch: là hoạt động bán hàng hoá với nớc ngoài ( kể cả với khu chế
xuất của Việt nam) thông qua các hợp đồng thơng mại, hợp tác kinh tế,đầu t, viện trợ.
Xuất khẩu phi mậu dịch là việc bán hàng hoá từ nớc ta cho các cá nhân và các tổ chức
nớc ngoài không có hợp đồng thơng mại.
Ngời ta thờng chia các mặt hàng xuất khẩu thành các loại nh sau :
- Hàng chủ lực : là loại hàng chiếm vị trí quyết định trong kim ngạch xuất khẩu do có
thị trờng ngoài nớc và điều kiện sản xuất trong nớc thuận lợi.
- Hàng quan trọng : là những mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu
nhng đối với từng thị trờng, từng địa phơng lại có vị trí quan trọng.
- Hàng thứ yếu: gồm nhiều loại hàng khác nhau tuy nhiên kim ngạch của chúng th-
ờng nhỏ.
Vị trí của mặt hàng xuất khẩu chủ lực không phải là vĩnh viễn. Một mặt hàng ở thời
điểm này có thể đợc coi là hàng xuất khẩu chủ lực nhng ở thời điểm khác thì không.
1.2.Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân.
Vai trò của xuất khẩu thể hiện ở những mặt sau.
Thứ nhất . Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc.
Tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc là con đờng tất yếu để khắc phục tình
trạng nghèo nàn, lạc hậu của đất nớc . Để tiến hành thành công trong một thời gian
ngắn đòi hỏi phải có một khối lợng vốn lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị kĩ thuật,
công nghệ hiện đại.
Nguồn vốn ngoại tệ dành cho nhập khẩu phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện
đại hoá đất nớc là một vấn đề quan trọng mà giải pháp tối u cho nó là tăng cờng xuất
khẩu. Xuất khẩu là hoạt động mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn nhất, quyết định quy mô
và tốc độ tăng của nhập khẩu dành cho lĩnh vực khoa học công nghệ
6
Thứ hai : Xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khai thác có cơ hội phát triển thuận lợi chẳng
hạn khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc phát triển
ngành xản xuất nguyên liệu nh bông hay thuốc nhuộm. tơ lụa
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ góp phần thúc đẩy sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cùng
với máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất trong nớc.
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực
sản xuất trong nớc.
- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của Việt nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên
thị trờng thế giới về giá cả, chất lợng và mẫu mã Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi mỗi
quốc gia phải cải tiến để hình thành một cơ cấu sản xuất thích nghi với thị trờng,
còn riêng đối với các doanh nghiệp phải đổi mới và hoàn thiện trên tất cả các mặt.
Thứ 3 : Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống của nhân dân.
Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gòm rất nhiều mặt. Trớc hết sản xuất hàng
xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc với thu nhập cao và ổn định.
Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn ngoại tệ để nhập khẩu các hàng hoá, vật phẩm tiêu
dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của nhân
dân.
Thứ t : Xuất khẩu kà cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của nớc
ta.
Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại và giữa chúng có mối quan hệ phụ thuộc
lẫn nhau, xuất khẩu hàng hoá phát triển cũng đồng thời kéo theo sự phát triển của các
hoạt động khác nh : tín dụng, đầu t, vận tải quốc tế, bu chính viễn thông
2.Những vấn đề chung về xuất khẩu hàng dệt may.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của xuất khẩu, trong chiến lợc phát triển kinh tế, Việt
nam luôn chú trọng đến những giải pháp nhằm tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Tuy
nhiên với một nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, công nghiệp kém phát triển với công
7
nghệ rất lạc hậu nh hịên nay. thì xuất khẩu của Việt nam chủ yếu là do lao động thủ
công tạo ra hoặc những sản phẩm truyền thống. Đó là các mặt hàng dầu thô, dệt may,
thuỷ sản, nông lâm hải sản
Hàng dệt may hiện nay là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam,
đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách nhà nớc.
2.1. Vai trò của xuất khẩu hàng dệt may Việt nam
Cũng nh các ngành xuất khẩu khác, xuất khẩu dệt may góp phần tạo ra nguồn vốn chủ
yếu cho hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, thúc đẩy quá
trình công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
tạo việc làm và cải thiện đời sống nhân dân.
Vai trò xuất khẩu hàng dệt may thể hiện rõ nh sau:
Thứ nhất: làm tăng kim ngạch xuất khẩu
Xuất khẩu hàng dệt may hiện nay đang đứng thứ 2 trong các mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của Việt nam ra nớc ngoài chỉ sau mặt hàng dầu thô, làm tăng kim ngạch xuất khẩu
của cả nớc và thu ngoại tệ cho ngân sách.
Bảng : Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam thời kỳ 2001-2003.
Chỉ tiêu
Năm
Tổng KNXK
(Triệu USD)
KNXK hàng dệt may
Giá trị
(triệu USD)
Tỷ trọng
(%)
Tốc độ pháttriển(%)
2001 15100 1891.8 12.53 -
2002 16862.3 1975.4 11.71 104.419
2003 20235.2 3630 17.94 183.76
Nhận xét : nhìn vào bảng ta thấy kim ngạch xuất hàng dệt may không ngừng tăng lên
theo thời gian, với tốc độ phát triển liên hoàn năm 2002 so với năm 2001 tăng 4.419%
và năm 2003 so với năm 2002 tăng 83.76%- đây là một tỉ lệ tăng rất cao. Tuy nhiên tỷ
trọng cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc tăng
giảm không đều, năm 2001 tỷ trọng này giảm xuống so với năm 2001 chỉ còn 11.71%
nhng năm 2003 lại tăng lên17.94%. Tỷ lệ này càng chứng tỏ hàng dệt may ngày càng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Thứ hai : góp phần giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống cho ngời lao động.
8
Dệt may là một ngành đã tận dụng đợc u thế của nớc ta là : dân số đông, nguồn lao
động dồi dào, và nó cũng đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo, cần cù chịu khó của nhân công,
góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động trong ngành ngoài ra còn
có cả số lao động cung cấp cho các ngành sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành dệt may
nh : ngành trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm
Thứ ba: mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Xuất khẩu hàng dệt may có ỹ nghĩa to lớn trong việc giải quyết thị trờng tiêu thụ, là cơ
hội tốt cho các doanh nghiệp thuộc ngành có cơ hội để cọ xát, học hỏi kinh nghiệm
trong việc tổ chức sản xuất, trong quản ly kinh doanh cũng nh cách tiếp cận và ứng
dụng các công nghệ tiên tiến.
Mặt khác đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may sẽ thu hút các nhà đầu t nớc ngoài đầu t
vào các cơ sở sản xuất hàng dệt may để khai thác nguồn lực, u thế mà chúng ta có.Việc
đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may góp phần mở rộng, tăng cờng mối quan hệ thơng
mại song phơng, đa phơng với các tổ chức và các nớc.
2.2. Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam.
Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may chịu ảnh hởng của các nhân tố không chỉ trong giai
đoạn sản xuất mà còn có cả các nhân tố trong giai đoạn lu thông, tiêu thụ. Các nhóm
nhân tố có thể chia thành
a. các nhóm nhân tố khách quan.
- Về vị trí địa ly và tài nguyên thiên nhiên.
Đây là nhân tố tác động đến nguồn nguyên liệu cung cấp trực tiếp cho quá trình sản
xuất, mặt khác cũng tác động đến việc phân bố các xí nghiệp sản xuất, các xí nghiệp bổ
trợ.
Vị trí địa lý thuận lợi sẽ thúc đẩy giao lu buôn bán hàng hoá xuất khẩu giũa các nớc,
giảm bớt chi phí vận chuyển hàng hoá, nguyên vật liệu từ đó giảm giá thành, nâng cao
khả năng cạnh tranh của hàng hoá dệt may xuất khẩu.
- Nhân tố con ngời, bao gồm cả trình độ chuyên môn, sức khoẻ, khả năng hoà nhập
cộng đồng, khả năng giao tiếp và tiếp cận với khoa học công nghệ tiên tiến.
Ngành dệt may là một ngành sử dụng nhiều nhân công đặc biệt đối với hàng gia công
xuất khẩu càng đòi hỏi tay nghề khéo léo, sự tỉ mỉ và độ chính xác tuyệt đối. Trong
9
hoạt động xuất khẩu từ khâu nghiên cứu thị trờng, tìm kiếm nguồn hàng, khách hàng
đến công tác giao dịch ký kết hợp đồng xuất khẩu, tiến hành sản xuất theo các hợp
đồng đó tất cả đều phải đợc thực hiện theo một chu trình khép kín liên tục,đòi hỏi các
nhân viên phải có khả năng nắm bắt xử ly công việc sao cho đạt hiệu quả nhất.
- Nhân tố công nghệ: trong lĩnh vực sản xuất hàng hoá xuất khẩu nói chung và xuất
khẩu dệt may nói riêng, việc nghiên cứu và đa vào ứng dụng các thành tựu khoa
học kỹ thuật công nghệ hiện đại có tác dụng đa dạng hoá sản phẩm ( các mẫu mã
thiết kế, màu sắc, kiểu dáng ) đồng thời nâng cao chất lợng sản phẩm, tăng năng
suất lao động, quy trình sản xuất sẽ đợc tổ chức và thực hiện đồng bộ hơn, nhanh
hơn.
- Nhóm nhân tố về tài chính và vốn
Vốn đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, có thể nói đây là
một nhân tố quyết định không thể thiếu đợc của mỗi doanh nghiệp. Vốn góp phần vào
việc đầu t đổi mới trang thiết bị , mở rộng sản xuất. duy trì hoạt dộng của doanh nghiệp
và các chi phí bất thờng khác, đặc biệt là những chi phí cho các đơn đặt hàng mà đòi
hỏi phải hoàn thành trong thời gian ngắn.
b. Nhóm nhân tố chủ quan.
Đó là những công cụ, chính sách của nhà nớc áp dụng để tạo lập môi trờng kinh
doanh và buộc các doanh nghiệp phải tuân theo và những nhân tố có thể nằm ngoài tầm
kiểm soát của doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu thì những yếu tố mang
tính chất nớc ngoài thờng tạo ra những khó khăn cho các doanh nghiệp.
Trớc hết đó là các công cụ và các chính sách kinh tế vĩ mô
Trong lĩnh vực xuất khẩu, các công cụ, chính sách chủ yếu thóng đợc sử dụng để điều
tiết hoạt động này là :
+ Thuế quan : là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng xuất khẩu, việc đánh thuế xuất
khẩu làm tăng tơng đối mức giá cả hàng xuất khẩu so với mức giá quốc tế nên đem lại
bất lợi cho sản xuất kinh doanh trong nớc.
Hiện nay, nhà nớc ta đã có rất nhiều chính sách u đãi, hỗ trợ dành riêng cho ngành dệt
may nh việc áp dụng thuế xuất khẩu và thuế giá trị gia tăng với thuế suất 0% đối với
10
sản phẩm dệt may xuất khẩu, hoàn thuế nhập khẩu nguyên liệu và các chính sách hỗ
trợ của các Bộ và các ban ngành khác có liên quan.
+ Giấy phép xuất khẩu: đợc quyết định theo từng mặt hàng xuất khẩu, theo từng quốc
gia và theo từng thời điểm nhất định. Mục đích là để giám sát, quản ly hoạt động xuất
khẩu thông qua đó để điều chỉnh loại hàng hoá xuất khẩu, bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên cũng nh điều chỉnh cán cân thanh toán.
+ Chính sách về tỷ giá :trong hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và xuất khẩu nói
riêng thì tỉ giá hối đoái cần đợc duy trì ở mức hợp lí sao cho đảm bảo cân bằng trên thị
trờng.
Ngoài ra chính sách trơ cấp, trợ giá cũng có tác dụng thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
hàng dệt may.
- Thứ hai đó là môi truờng pháp lý và các yếu tố chính trị - xã hội.
Các yếu tố chính trị xã hội và pháp luật có tác dụng tạo ra môi trờng kinh doanh cho
tất cả các doanh nghiệp hoạt động mà vẫn đảm bảo tính cạnh tranh và công bằng, hơn
nữa một cơ chế chính trị xã hội ổn định, một hành lang pháp ly thuận lợi sẽ thu hút các
nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào Việt nam mà đặc biệt là ngành dệt may.
- Thứ ba : là các quan hệ kinh tế quốc tế.
Thị trờng đóng vai trò quyết định đối với xuất khẩu hàng dệt may. Để có đợc một thị tr-
ờng rộng lớn, Nhà nớc cũng nh các doanh nghiệp xuất khẩu cần thắt chặt hơn nữa các
mối quan hệ kinh tế quốc tế sẵn có, tham gia vào các liên minh, các hiệp hội để nhận đ-
ợc sự ủng hộ của quốc tế đồng thời tìm kiếm thêm đối tác và thị trờng mới.
II. Phân tích thống kê xuất khẩu hàng dệt may.
1. Sự cần thiết của việc phân tích thống kê xuất khẩu hàng dệt may.
Theo quan điểm của thống kê, thì xuất khẩu là quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá,
dịch vụ giữa các đơn vị thờng trú với các đơn vị không thờng trú. Xuất khẩu bao gồm
cả xuất khẩu qua biên giới và xuất khẩu tại chỗ.
Thống kê hoạt động xuất khẩu nói chung và thống kê hoạt động xuất khẩu hàng dệt
may nói riêng nhằm để phân tích, đánh giá hoạt động xuất khẩu, tình hình thực hiện kế
hoạch, của các doanh nghiệp dệt may trong nớc cũng nh các doanh nghiệp liên doanh
liên kết với nớc ngoài qua các năm. Đảm bảo cung cấp những số liệu cần thiết cho các
11
nhà lãnh đạo cũng nh các cơ quan quản ly, làm cơ sở để định ra các quyết định đúng
đắn và xây dựng chỉ tiêu kế hoạch cho công tác xuất khẩu hàng dệt may.
Phân tích thống kê xuất khẩu hàng dệt may để từ đó đánh giá đợc tiềm năng, thế
mạnh của từng vùng, từng địa phơng phục vụ cho mục đích qui hoạch và phát triển kinh
tế vùng.
Thống kê xuất khẩu hàng dệt may giúp nghiên cứu các thị trờng tiêu thụ sản phẩm
hiện có và phát hiện các thị trờng mới thị trờng tiềm năng.Phục vụ cho các mục đích
thuế, chính sách thuế đối với mặt hàng xuất khẩu dệt may.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của hoạt động thống kê xuất khẩu hàng dệt
may là kiểm tra mức độ hoàn thành các kế hoạch xuất khẩu và phân phối trên cơ sở
những chỉ tiêu đã đợc giao.Qua các số liệu thống kê về xuất khẩu của các tháng, các
quí, các năm của các đơn vị hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may, tổng cục
thống kê sẽ lập nên các bảng thống kê tổng hợp tình hình xuất khẩu của ngành.
Số liệu thống kê của xuất khẩu hàng dệt may nói lên mối quan hệ của nớc ta với các
nớc khác trong quá trình tham gia vào sự phân công và hợp tác kinh tế quốc tế trong
lĩnh vực may mặc.
Thống kê xuất nhập hàng dệt may là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng trong đáp ứng
nhu cầu sử dụng hàng dệt may cùng với các thống kê kinh tế cơ bản khác, thống kê
xuất khẩu hàng dệt may góp phần tính toán các chỉ tiêu xuất nhập khẩu cũng nh các chỉ
tiêu trong hệ thống tài khoản quốc gia, cán cân thanh toán quốc tế.
2. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê nghiên cứu tình hình xuất khẩu hàng dệt
may.
2.1 Sự cần thiết khách quan phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê nghiên cứu
tình hình xuất khẩu hàng dệt may.
Tất cả các sự vật hiện tợng đều nằm trong mối quan hệ biện chứng với các sự vật hiện
tợng khác, tác động qua lại với nhau.Một chỉ tiêu thống kê chỉ phản ánh đợc một mặt,
một khía cạnh của vấn đề, Vì vậy muốn nghiên cứu một cách toàn diện ta phải xây
dựng đợc một hệ thống chỉ tiêu.
12
Xuất khẩu là sự tổng hợp của nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau do đó việc xây
dựng hệ thống chỉ tiêu là cần thiết để nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ nhất về
tình hình xuất khẩu.
Hệ thống chỉ tiêu thống kê có khả năng lợng hoá các mặt, các tính chất cơ cấu các
mối liên hệ cơ bản của đối tợng nghiên cứu từ đó nhận thức đợc bản chất cụ thể và tính
quy luật của hiện tợng.
Trong thời gian qua, hệ thống chỉ tiêu thống kê xuất khẩu hàng dệt may nhìn chung
cha đáp ứng về mặt số lợng cũng nh nội dung, về mức độ chi tiết của chỉ tiêu, tính kịp
thời, tính chính xác, tính đầy đủ và độ tin cậy để so sánh quốc tế. Trớc yêu cầu của
công tác quản ly, điều hành hoạt động xuất khẩu trong các doanh nghiệp nói riêng cũng
nh của ngành dệt may nói chung, cần phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu thống kê
xuất khẩu hàng dệt may phù hợp, cải tiến phơng pháp thu thập và xử l số liệu để đáp
ứng với yêu cầu đã đặt ra.Vấn đề này càng đặc biệt quan trọng khi Việt nam gia nhập
vào các tổ chức lớn trong khu vực và quốc tế, đặc biệt là tổ chức WTO.
2.2. Nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê nghiên cứu tình hình xuất
khẩu hàng dệt may. Bao gồm các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất : Đảm bảo tính hớng đích.
Theo nguyên tắc này, hệ thống chỉ tiêu cần xây dựng phải đợc xuất phát từ mục đích,
nhiệm vụ nghiên cứu, nghĩa là nhiệm vụ nào thì hệ thống chỉ tiêu đó. Nh vậy các chỉ
tiêu xuất khẩu phải đáp ứng nhu cầu thông tin cần thiết phục vụ cho việc việc đánh giá,
phân tích tình hình xuất khẩu hàng dệt may.
Nguyên tắc thứ hai : Đảm bảo tính hệ thống .
Hệ thống chỉ tiêu thống kê phải có khả năng nêu lên đợc mối liên hệ giữa các mặt, các
bộ phận, giữa hiện tợng nghiên cứu với các hiện tợng có liên quan( trong phạm vi mục
đích nghiên cứu )
Trong hệ thống chỉ tiêu thống kê xuất khẩu, có những chỉ tiêu mang tính chất chung,
các chỉ tiêu mang tính chất bộ phận và các chỉ tiêu nhân tố nhằm phản ánh toàn diện và
sâu sắc đối tợng nghiên cứu.
13
Đảm bảo tính hệ thống nghĩa là phải đảm bảo tính nhất quán giữa hệ thống chỉ tiêu
tổng thể và hệ thống chỉ tiêu bộ phận. Đảm bảo sự thống nhất về nội dung, phơng pháp
và phạm vi tính của các chỉ tiêu cùng loại.
Nguyên tắc thứ ba : Đảm bảo tính khả thi.
Nghĩa là phải căn cứ vào khả năng, nhân tài vật lực cho phép để có thể tiến hành thu
thập, tổng hợp các chỉ tiêu trong sự tiết kiệm nghiêm ngặt. Từ đó đòi hỏi ngời xây dựng
chỉ tiêu phải cân nhắc thật kỹ lỡng, xác định những chỉ tiêu căn bản nhất, quan trọng
nhất làm sao đảm bảo số lợng không nhiều mà vẫn đáp ứng đợc mục đích nghiên cứu
Nguyên tắc thứ t : Đảm bảo tính hiệu quả.
Hiệu quả đề cập ở đây bao gồm cả hiệu quả về kinh tế và hiệu quả xã hội, tức là chi phí
bỏ ra để xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phải không đợc lớn hơn kết quả thu đợc.
2.3. Hệ thống chỉ tiêu thống kê nghiên cứu tình hình xuất khẩu hàng dệt may. đợc
biểu hiện qua sơ đồ ở trang bên.
2.3.1. Nhóm chỉ tiêu quy mô xuất khẩu.
Đây là nhóm chỉ tiêu biểu hiện quy mô hàng hoá đợc trao đổi. Quy mô xuất khẩu hàng
hoá là chỉ tiêu thời kỳ và là chỉ tiêu tuyệt đối có thể tính theo đơn vị hiện vật hoặc đơn
vị giá trị.
a. Khối lợng hàng dệt may xuất khẩu: (q)
+ Đây chính là chỉ tiêu quy mô xuất khẩu hàng dệt may tính theo đơn vị hiện vật biểu
hiện khối lợng, số lợng của một loại hàng dệt may xuất khẩu trên thị trờng trong một
khoảng thời gian nhất định.
Đơn vị tính: sản phẩm ( chiếc, cái)
+ý nghĩa: chỉ tiêu này là cơ sở để tính toán các chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu, doanh thu
xuất khẩu và một số các chỉ tiêu có liên quan.
+Nguồn thông tin số liệu : chỉ tiêu này đợc thu thập từ báo cáo xuất khẩu định kỳ hàng
tháng do Phòng Kế hoạch xuất-nhập khẩu lập.
Khối lợng hàng dệt may xuất khẩu đợc tính riêng cho tong loại hàng hoá khác nhau,
khi tổng hợp ta có thể quy chuẩn về cùng một đơn vị (thông thờng trong thống kê xuất
khẩu hàng dệt may ngời ta quy về sơ mi chuẩn
Công thức quy đổi nh sau : q=q. k
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét