thực tế công tác kế toán của Công ty. Em đã thực hiện báo cáo thực
tập của mình với đề tài: “Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết
quả bán hàng tại Công ty TNHH Sao Đô Thành”.
Chuyên đề này được chia ra làm 3 phần chính:
Phần I: Lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết
quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại.
Phần II: Tình hình thực tế về kế toán bán hàng và xác định
kết quả bán hàng ở công ty TNHH Sao Đô Thành.
Phần III: Một số ý kiến và những biện pháp nhằm hoàn thiện
công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công
ty TNHH Sao Đô Thành.
Lê Thị Thuỳ
5
PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH
KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG, XÁC
ĐỊNH KẾT QUẢ.
1. Vai trò, vị trí của bán hàng và xác định kết quả trong doanh
nghiệp
a. Bán hàng:
Là việc chuyển quyền sở hữu về hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ
cho khách hàng, doanh nghiệp thu tiền hay được quyền thu tiền. Đó
chính là quá trình vận động của vốn kinh doanh từ vốn thành phẩm
hàng hoá sang vốn bằng tiền và xác định kết quả.
Trong các doanh nghiệp thương mại chủ yếu là bán hàng hóa.
Bán hàng là một chức năng chủ yếu của doanh nghiệp, bên cạnh
đó nó còn nhiều chức năng khác như mua hàng, dự trữ hàng Bất kỳ
một doanh nghiệp thương mại nào cũng phải thực hiện hai chức năng
mua và bán. Hai chức năng này có sự liên hệ với nhau mua tốt sẽ tạo
điều kiện cho bán tốt. Để thực hiện tốt các nghiệp vụ trên đòi hỏi phải
có sự tổ chức hợp lý các hoạt động, đồng thời tổ chức nghiên cứu thị
trường, nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng. Như vậy tiêu thụ sản
phẩm là tổng thể các biện pháp về mặt tổ chức và nắm bắt nhu cầu
của thị trường.
Chỉ có thông qua việc bán hàng - giá trị sản phẩm dịch vụ mới
được thực hiện do đó mới có điều kiện để thực hiện mục đích của nền
sản xuất hàng hoá và tái sản xuất kinh doanh không ngừng được mở
Lê Thị Thuỳ
6
rộng. Doanh thu bán hàng sẽ bù đắp được các chi phí bỏ ra, đồng thời
kết quả bán hàng sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Bán hàng tự thân nó không phải là một quá trình của sản xuất
kinh doanh nhưng nó lại là một khâu cần thiết của tái sản xuất xã hội.
Vì vậy bán hàng góp phần nâng cao năng suất lao động, phục vụ sản
xuất tiêu dùng và đời sống xã hội. Nhờ có hoạt động bán hàng, hàng
hoá sẽ được đưa đến tay người tiêu dùng và thoả mãn nhu cầu của
người tiêu dùng về số lượng cơ cấu và chất lượng hàng hóa, việc tiêu
thụ hàng hoá góp phần cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng.
Kết quả cuối cùng của thương mại tính bằng mức lưu chuyển
hàng hoá mà việc mức lưu chuyền hàng hoá lại phụ thuộc vào mức
bán hàng nhanh hay chậm. Doanh nghiệp càng tiêu thụ được nhiều
hàng hoá thì sức mạnh của doanh nghiệp càng tăng lên. Như vậy bán
hàng sẽ quyết định sự sống còn của doanh nghiệp, có bán được hàng
hoá thì doanh nghiệp mới có khả năng tái sản xuất.
Tiêu thụ hàng hoá có ý nghĩa trong nền quốc dân nói chung và
với doanh nghiệp nói riêng:
Nền kinh tế quốc dân thực hiện bán hàng là tiền đề cân đối giữa
sản xuất và tiêu dùng, giữa tiền - hàng trong lưu thông. Đăc biệt là
đảm bảo cân đối giữa các ngành, các khu vực trong nền kinh tế. Các
đơn vị trong nền kinh tế thị trường, không thể tồn tại và phát triển một
cách độc lập mà giữa chúng có mối quan hệ qua lại khăng khít với
nhau. Quá trình bán sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ cân
đối sản xuất giữa các ngành, các đơn vị với nhau nó tác động đến
quan hệ cung cầu trên thị trường.
Lê Thị Thuỳ
7
Bản thân doanh nghiệp, thực hiện tốt khâu bán hàng là phương
pháp gián tiếp thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng lợi nhuận cho doanh
nghiệp, tạo điều kiện mở rộng tái sản xuất.
Trong doanh nghiệp kế toán sử dụng như một công cụ sắc bén
và có hiệu lực nhất để phản ánh khách quan và giám đốc toàn diện
mọi hoạt động của SXKD của một đơn vị. Kế toán bán hàng là một
trong những nội dung chủ yếu của kế toán trong doanh nghiệp thương
mại.
Qua những điều trên ta thấy rằng bán hàng có vai trò vô cùng
quan trọng. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển
đều không thể thiếu đi chức năng này.
b. Kết quả bán hàng:
Kết quả bán hàng là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí tạo ra
doanh thu đó trong một thời kỳ.
Kết quả bán hàng = Doanh thu thuần - (Giá vốn hàng bán + Chi
phí QLDN + chi phí bán hàng)
Doanh thu thuần = Doanh thu - (doanh thu hàng trả lại + giảm giá
hàng bán).
2. Yêu cầu quản lý bán hàng và xác định kết quả
a. Yêu cầu quản lý bán hàng
Bán hàng là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị hàng hoá, tức là
chuyển hàng hoá vốn của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật (hàng)
sang hình thái tiền tệ (tiền).
Hàng được đem bán có thể là thành phẩm, hàng hoá vật tư hay
lao vụ, dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Việc bán hàng có thể để
thoả mãn nhu cầu của cá nhân đơn vị ngoài doanh nghiệp gọi là bán
Lê Thị Thuỳ
8
hàng ra ngoài. Cũng có thể được cung cấp giữa các ca nhân đơn vị
cùng công ty, một tập đoàn gọi là bán hàng nội bộ.
Quá trình bán hàng được coi là hoàn thành khi có đủ hai điều
kiện:
- Gửi hàng cho người mua.
- Người mua trả tiền hay chấp nhận trả tiền.
Tức là ngiệp vụ bán hàng chỉ xảy ra khi giao hàng xong, nhận
được tiền hay giấy chấp nhận thanh toán của người mua. Hai công
việc này diễn ra đồng thời cùng một lúc với các đơn vị giao hàng trực
tiếp. Phần lớn việc giao tiền và nhận hàng tách rời nhau: Hàng có thể
giao trước, tiền nhận sau hoặc tiền nhận trước hàng giao sau. Từ đó
dẫn đên doanh thu bán hàng và tiền bán hàng nhập quỹ không đồng
thời.
Khi thực hiện việc trao đổi hàng tiền, doanh nghiệp phải bỏ ra
những khoản chi gọi là chi phí bán hàng. Tiền bán hàng gọi là doanh
thu bán hàng.
Doanh thu bán hàng bao gồm doanh thu bán hàng ra ngoài và
doanh thu bán hàng nội bộ.
Tiền bán hàng nhập quỹ phản ánh toàn bộ số tiền mua hàng mà
người mua đã trả cho doang nghiệp.
Phân biệt được doanh thu bán hàng và tiền bán hàng nhập quỹ
giúp doanh nghiệp xác định chính xác thời điểm kết thúc quá trình bán
hàng, giúp bộ phận quản lý tìm ra phương thức thanh toán hợp lý và
có hiệu quả, chủ động sử dụng nguồn vốn đem lại nguồn lợi lớn nhất
cho doanh nghiệp.
Lê Thị Thuỳ
9
Doanh thu bán hàng của doanh nghiệp được ghi nhận khi hàng
hoá được chuyển cho người mua và thu được tiền bán hàng ngay
hoặc chấp nhần trả tiền tuỳ theo phương thức thanh toán:
+ Trường hợp thu ngay được tiền khi giao hàng: Doanh thu bán
hàng chính là tiền bán hàng thu được.
+ Trường hợp nhận được chấp nhận thanh toán gồm:
- Hàng hoá xuất cho người mua được chấp nhận thanh toán đến
khi hết thời hạn thanh toán chưa thu được tiền về vẫn được coi là kết
thúc nghiệp vụ bán hàng. Doanh thu bán hàng trong trường hợp này
được tính cho kỳ này nhưng kỳ sau mới có tiền nhập quỹ.
- Trường hợp giữa khách hàng và doanh nghiệp có áp dụng
phương thức thanh toán theo kế hoạch thì khi gửi hàng hoá cho người
mua, số tiền bán hàng gửi bán được chấp nhận là doanh thu bán
hàng.
Từ những phân tích trên đây ta thấy rằng thực hiên tốt công tác
bán hàng thu doanh thu về cho doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan
trọng, do vậy trong công tác quản lý nghiệp vụ bán hàng cần phải nắm
bắt, theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng, từng thể thức
thanh toán, từng khách hàng và từng loại hàng hoá bán ra. Đôn đốc
thanh toán, thu hồi đầy đủ kịp thời tiền vốn của doanh nghiệp.
b. Yêu cầu quản lý kết quả bán hàng
Hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại bao gồm nhiều loại
hàng, nhiều mặt hàng khác nhau do vậy để giúp cho các nhà quản lý
doanh nghiệp đánh giá được kết quả kinh doanh của từng mặt hàng
thì việc xác định kết quả bán hàng phải được thực hiện cho từng mặt
hàng.
Lê Thị Thuỳ
10
3. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả.
Để đáp ứng các yêu cầu quản lý trên kế toán với chức năng là
một công cụ quản lý phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Theo dõi, phản ánh và giám đốc chặt chẽ quá trình bán hàng,
ghi chép kịp thời, đầy đủ các khoản chi phí, thu nhập bán hàng, xác
định kết quả kinh doanh thông qua doanh thu bán hàng một cách
chính xác.
- Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên
quan, đồng thời định kỳ có tiến hành phân tích kinh tế đối với hoạt
động bán hàng và xác định kết quả.
II. NỘI DUNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG, VÀ XÁC ĐỊNH KẾT
QUẢ BÁN HÀNG
A. Kế toán bán hàng
1. Chứng từ kế toán:
Các chứng từ thường dùng là:
Phiếu xuất kho, phiếu xuất kho hàng bán đại lý, phiếu xuất kho
kiêm vận chuyển nội bộ.
Hóa đơn bán hàng, hóa đơn GTGT, hóa đơn bán lẻ.
Phiếu thu, chi tiền mặt, giấy báo nợ, có của ngân hàng.
2. Tài khoản sử dụng
Các tài khoản thường dùng là
TK 511,512,521, 531, 532, 632,156, 111, 112, 131, 333.1,
Tài khoản 511- doanh thu bán hàng hoá: Phản ánh doanh thu bán
hàng hoá, sản phẩm dịch vụ theo hoá đơn, cuối kỳ kết chuyển các
khoản giảm trừ doanh thu, và kết chuyển doanh thu thuần sang tài
khoản 911 để xác định kết quả.
Lê Thị Thuỳ
11
TK512- doanh thu bán hàng nội bộ: phản ánh doanh thu của số
hàng hoá, lao vụ, sản phẩm tiêu thụ nội bộ gữa các đơn vị trực thuộc
trong cùng một Công ty, tổng công ty hạch toán toàn ngành. Ngoài ra,
tài khoản này còn sử dụng để theo dõi các khoản một số nội dung
được coi là tiêu thụ nội bộ khác như sử dụng sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ, và hoạt động sản xuất kinh doanh hay trả lương, thưởng…
cho công nhân viên
TK521- Chiết khấu bán hàng: phản ánh số tiền doanh nghiệp
được hưởng khi bán được số hàng hoá lao vụ dịch vụ trong mọt thời
điểm nhất định.
Tài khoản 531 - Hàng bán bị trả lại: phản ánh trị giá hàng bán bị
trả lại và kết chuyển trị giá hàng bán bị trả lại sang tài khoản 511 hoặc
512 để giảm doanh thu bán hàng.
Tài khoản 532 - Giảm giá hàng bán: Phản ánh số tiền giảm giá
cho khách hàng và kết chuyển số tiền giảm giá sang tài khoản 511
hoặc 512 để giảm doanh thu bán hàng.
Tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán: Phản ánh trị giá vốn hàng
hoá, thành phẩm, dịch vụ đã bán (được chấp nhận thanh toán hoặc đã
thanh toán) và kết chuyển trị giá vốn hàng bán sang tài khoản 911 để
tính kết quả kinh doanh.
Tài khoản 156 - Hàng hoá: Phản ánh số hiện có và tình hình tăng,
giảm hàng hoá trong các doanh nghiệp thương mại.
Tài khoản 111 - Tiền mặt: Phản ánh tổng hợp tình hình thu, chi và
tồn quỹ tiền mặt của đơn vị.
Tài khoản 112 - Tiền gửi ngân hàng: Phản ánh tình hình biến
động các khoản tiền gửi của các đơn vị tại các ngân hàng, kho bạc.
Lê Thị Thuỳ
12
Tài khoản 131 - Phải thu của khách hàng: Phản ánh tình hình
thanh toán giữa đơn vị với các khách hàng về các khoản phải thu.
Tài khoản 333.1- Thuế giá trị gia tăng phải nộp: Phản ánh tình
hình thanh toán giữa doanh nghiệp với Nhà nước.
3. Phương pháp tính giá hàng hoá
Hàng hoá nhập - xuất kho trong kinh doanh thương mại theo quy
định được hạch toán theo giá thực tế.
a. Giá thực tế của hàng hoá mua vào:
Tuỳ thuộc vào từng nguồn hàng khác nhau cũng như tuỳ thuộc
vào từng phương pháp tính thuế VAT mà doanh nghiệp áp dụng. Đối
với doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ thì trong
giá mua không bao gồm thuế VAT đầu vào, còn đối với doanh nghiệp
tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp thì trong giá mua bao gồm
cả thuế VAT đầu vào.
Giá thực tế Giá mua Chi phí Chi phí Giảm giá
Trị giá
hàng hoá mua = ghi trên + sơ chế, + thu mua – hàng mua –
hàng mua trong nước hoá đơn hoàn thiện hàng hoá được
hưởng trả lại.
Giá thực tế Giá mua Thuế Chi phí Chi phí Giảm giá Trị
giá
hàng hoá = hàng nhập + nhập + thu mua + sơ chế, – hàng mua – hàng
mua
nhập khẩu khẩu (CIF) khẩu trong nước hoàn thiện được hưởng
trả lại
Trong đó:
Giá CIF = Trị giá + Chi phí thu mua, vận chuyển, phí bảo
mua hàng hoá hiểm đến ga (cảng, sân bay) nước ta.
Lê Thị Thuỳ
13
Giá thực tế hàng thuê ngoài = Giá mua hàng hoá + Chi phí liên quan
đến
(hoặc tự gia công, chế biến) xuất gia công việc gia công, chế
biến.
Cần phải chú ý rằng, đối với doanh nghiệp tính thuế VAT theo
phương pháp trực tiếp thì trong giá thực tế của hàng nhập khẩu còn
bao gồm cả thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu. Như vậy, giá thực tế
hàng hoá bao gồm hai bộ phận: Trị giá mua (kể cả thuế phải nộp) và
chi phí thu mua.
b. Đối với hàng hoá xuất kho cũng phải phản ánh theo đúng giá
thực tế.
Khi xuất kho, để tính được giá thực tế của hàng hoá, kế toán phải
tách riêng trị giá mua và chi phí thu mua.
*Đối với trị giá mua: Kế toán có thể áp dụng một trong các
phương pháp tính giá xuất kho như sau:
- Phương pháp tính theo đơn giá bình quân gia quyền:
Giá thực tế = Số lượng hàng hoá * Giá đơn vị bình
hàng hoá xuất kho xuất kho trong kỳ quân gia quyền.
Giá đơn vị bình Giá thực tế hàng tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
quân gia quyền Số lượng thực tế hàng tồn và
nhập trong kỳ
- Phương pháp tính gía bình cuối kỳ trước (tồn đầu kỳ).
Giá thực tế = Số lượng hàng hoá * Giá đơn vị bình
hàng hoá xuất kho xuất kho trong kỳ quân cuối kỳ trước.
Giá đơn vị bình Giá thực tế hàng hoá cuối kỳ trước (tồn đầu
kỳ) quân cuối kỳ trước Số lượng thực tế hàng cuối kỳ
trước (tồn đầu kỳ)
Lê Thị Thuỳ
14
=
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét