Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

552 Lợi nhuận và một số biện pháp tài chính nhằm tăng lợi nhuận tại Công ty Dược Liệu TW I (40tr)

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đỗ Quốc Huy _ K9QT1
Phần I
VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
TRONG DOANH NGHIỆP
I_VỐN LƯU ĐỘNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP.
1.Vốn lưu động và vai trò của vốn lưu động.
1.1.Khái niệm về vốn lưu động:
Trong mọi nền sản xuất hàng hóa, để tiến hành sản xuất sản phẩm bao
giờ cũng cần các yếu tố: sức lao động, tư liệu sản xuất và vốn.Muốn bắt đầu
một quá trình kinh doanh, tức là phải có những yếu tố trên thì doanh nghiệp
cần có những khoản vốn ứng trước.Vốn này có thể là tiền, nhà xưởng, đất
đai,máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, sức lao động…
Toàn bộ vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của DN được
gọi là vốn sản xuất kinh doanh(SXKD)
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn được đầu tư để mua sắm tài
sản cố định(TSCĐ) và tài sản lưu động(TSLĐ).Từ đó hình thành vốn cố
định(VCĐ) và vốn lưu động(VLĐ).
Nếu như VCĐ là khoản vốn đầu tư để mua sắm TSCĐ mà đặc điểm là
chuyển dần dần giá trị của nó vào sản phẩm trong các chu kỳ SXKD.Thì
ngược lại vốn lưu động được đầu tư để mua sắm các TSLĐ và giá trị của nó
chuyển một lần vào sản phẩm trong các chu kỳ sản xuất kinh doanh.TSLĐ có
mặt trong tất cả các giai đoạn trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh: dự trữ -
sản xuất - tiêu thụ.
Ở giai đoạn dự trữ: VLĐ được thể hiện ở nguyên vất liêu.Nhiên liệu
chuẩn bị được đưa vào sản xuất sản phẩm.
Ở giai đoạn sản xuất: những sản phẩm đang được sản xuất dở dang
đang ở các khâu chế biến và thành phẩm chính là một hình thái luân chuyển
của VLĐ.
Mặt khác, quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn gắn
liền với quá trinh lưu thông.Trong quá trình lưu thông còn phải tiến hành một
số công việc :chọn lọc, đóng gói, xuất giao sản phẩm và thanh toán.Do
Cty Cổ Phần Đầu Tư QuốcTế An Thành

5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đỗ Quốc Huy _ K9QT1
đó,trong khâu tiêu thụ, VLĐ chính là hàng hoá, tiền tệ và những phải thu từ
khách hang.v.v
Vốn lưu động trong quá trình sản xuất (dự trữ và sản xuất) và VLĐ trong
quá trình tiêu thụ thay chỗ cho nhau vận động không ngừng nhằm bảo đảm
cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi.VLĐ được chuyển
hoá nhiều hình thái khác nhau, từ hình thái tiến tệ chuyển sang hình thái vật
tư hàng hoá rồi chuyển về hình thái tiền tệ.Quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp được diễn ra liên tục không ngừng tạo thành dòng chu chuyển
của VLĐ.
Trong các doanh nghiệp thương mại(DNTM), VLĐ chiếm một tỷ trọng
lớn, vì vậy nó giữ một vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.2.Phân loại vốn lưu động:
Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau có thể phân chia VLĐ thành những
loại vốn khác nhau cụ thể:
*Căn cứ nguồn hình thành VLĐ,có thể chia thành:
-Vốn lưu động tự có và coi nhu tự có : Đây chính là một bộ phận vốn
của chủ, được đầu tư vào TSLĐ.Nếu là DNNN thì đây có thể là vốn ngân
sách(NS)cấp, vốn NS cấp bổ sung, lợi nhuận để lại…Nếu là doanh nghiệp
ngoài quốc doanh thì có thể là do vốn cổ phần, vốn đầu tư của chủ doanh
nghiệp, vốn liên doanh liên kết….
-Vốn lưu động đi vay: Là khoản vốn đầu tư vào TSLĐ bằng tiền vay
bên ngoài củ doanh nghiệp, có thể là vay ngân hàng, vay các tổ chức, cá nhân,
phát hành trái phiếu hay thuê mua tài chính.
*Căn cứ vào phương pháp xác định vốn, có thể chia thành:
-Vốn lưu động định mức.
-Vốn lưu động không định mức.
*Căn cứ vào quá trình tuần hoàn vốn, có thể chia thành:
-Vốn lưu động nằm trong quá trình dự trữ sản xuất: bao gồm nguyên
vật liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ lao động… trong khâu dự trữ.
-Vốn lưu động trong quá trình sản xuất: là những sản phẩm sản xuất dở
dang, bán thành phẩm và những chi phí nhờ phân bổ.
Cty Cổ Phần Đầu Tư QuốcTế An Thành

6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đỗ Quốc Huy _ K9QT1
-Vốn lưu động trong quá trình lưu thông: gồm vốn thành phẩm, vốn
tiền tệ(tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, trái phiếu - tín phiếu kho bạc…)vốn thanh
toán(các khoản phải thu và tạm ứng).
1.3.Vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Qua phần khái niệm chung về VLĐ nói trên ta cũng có thể thấy được
vai trò của VLĐ đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trước hết,VLĐ là bộ phận không thể thiếu được trong vốn sản xuất
kinh doanh, nhờ có VLĐ mà qúa trình sản xuất được diễn ra liên tục từ khâu
mua sắm vật tư cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm.VLĐ chuyển một lần vào giá
trị sản phẩm,do vậy nó là cơ sở để tính giá thành sản phẩm.
Hơn nữa vòng tuần hoàn và chu chuyển VLĐ diễn ra trong toàn bộ các
giai đoạn của qua trình sản xuất kinh doanh.Vì vậy, theo dõi sự vận động và
biến đổi của VLĐ sẽ giúp cho doanh nghiệp gần như quản lý được toàn bộ
các hoạt động của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các doanh nghiệp ngày trở nên
ngày càng lớn mạnh và sức cạnh tranh lớn hơn. Để có thể thắng trong cạnh
tranh, tồn tại trên thương trường thì doanh nghiệp cần có một lượng vốn đủ
lớn mà tập chung vào VLĐ.Các doanh nghiệp phải xác định được các yêu
cầu về VLĐ của doanh nghiệp và lên kế hoạch về huy động vốn để phuc vụ
nhu cầu đó của doanh nghiệp.
1.4.Các bộ phận cấu thành vốn lưu động:
1.4.1.Tiền và các khoản đầu tư khắn hạn: có thể chia là tiền mặt, tiền
gửi ngân hàng(tiền gửi giao dịch);Trái phiếu-tín phiếu kho bạc, và các khoản
đầu tư tài chính ngắn hạn có tính thanh khoản cao, có thể thu về hay chuyển
thành tiền mặt khi có nhu cầu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
1.4.2.Các khoản phải thu: Trong quá trình tiêu thụ không phải lúc nào
doanh nghiệp cũng thu được ngay tiền bán hàng. Đôi khi doanh nghiệp phải
bán chịu (khách hàng quen), tiền sẽ nhận về sau một thời gian nhất định nào
đó so với thời gian giao hàng (theo sự đàm phán giữa hai bên) vì thế hình
thành lên những khoản phải thu từ khách hàng hay nhưng khoản tạm ứng
trước cho người bán.
Cty Cổ Phần Đầu Tư QuốcTế An Thành

7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đỗ Quốc Huy _ K9QT1
1.4.3.Hàng tồn kho: Là toàn bộ lượng vật tư nhiên liệu thành phẩm có
trong kho hay gửi bán. Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần dự trữ hàng
hoá để cho quá trình sản xuất được diễn ra một cách liên tục.Trong quá trình
sản xuất thì cần dự trữ cho sản xuất (nguyên-nhiên-vật liệu, các công cụ dụng
cụ nhỏ, tư liệu lao động được dự trữ trong kho).Trong quá trình tiêu thụ, dự
trữ gồm thành phẩm hàng hoá…
2.Nguồn hình thành vốn lưu động.
2.1.Vốn tự có:
Đối với các doanh nghiệp quốc doanh,vốn tự có thể hiện số vốn lưu
động do NSNN cấp hay có nguồn gốc từ NS như khoản chênh lệch giá và các
khoản phải nộp NS nhưng được để lại.
Đối với công ty cổ phần thì nguồn vốn tự có hình thành lên VLĐ chính
là một phần của nguồn vốn có được do bán cổ phần cho các cổ đông.
Đối với các công ty liên doanh thi nguồn vốn này do doanh nghiệp liên
doanh với các doanh nghiệp khác.Các doanh nghiệp có thể góp vốn bằng tiền
mặt hay bằng hiện vật là vật tư hàng hóa .
Nếu doanh nghiệp là doanh nghiệp tư nhân thì vốn tự có đàu tư vào
TSLĐ sẽ do chủ doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư vào quá trình sản xuất kinh
doanh.
Còn đối với HTX thì vốn tự có hình thành lên TSLĐ do các xã viên
đóng góp.
2.2.Vốn tự có bổ sung:
Nguồn này được hình thành từ lợi nhuận đẻ lại hoăc từ các quỹ của
doanh nghiệp để bổ sung cho VLĐ.
2.3.Nguồn vốn đi vay:
Doanh nghiệp có thể áp dụng một hay nhiều hình thức vay vốn bên
ngoài để hình thành lên TSLĐ của doanh nghiệp .Phương thức huy động có
thể là:
-Vay Ngân hàng, các tổ chức tín dụng, đơn vị, tổ chức cá nhân trong và
ngoài nước.
-Phát hành trái phiếu
-Thuê mua tài chính.
Cty Cổ Phần Đầu Tư QuốcTế An Thành

8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đỗ Quốc Huy _ K9QT1
Tỷ trọng của từng loại nguồn vốn dài hạn được gọi là một cơ cấu vốn
của doanh nghiệp. Đối với vốn tự có,doanh nghiệp muốn sử dụng thì cần
quan tâm đến khoản chia lãi cổ phần, hoặc trả tiền thu sử dụng NS.Còn đối
với vốn vay dài hạn, doanh nghiệp phải trả lãi tiền vay hay còn gọi là chi phí
vốn. Như vậy, doanh nghiệp có nhiều cách thức trả nợ cho VLĐ nhưng vấn
đề đặt ra là lựa chọn nguồn tài trợ nào để đem lại hiệu quả nhất.Vì thế, doanh
nghiệp cần lựa chọn một cơ cấu vốn hợp lí để mang lại hiệu quả trong việc sử
dụng các công cụ tài chính trong doanh nghiệp.Về nguyên tắc, doanh nghiệp
sẽ lựa chọn nguồn vốn có chi phí vốn thấp nhất để tài chợ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để thực hiện điều này doanh nghiệp cần
so sánh hai chỉ tiêu: Doanh lợi vốn và chi phí vốn.
Lợi thuận trước thuế và lãi
Doanh lợi vốn =
Tổng tài sản

Chi phí vay nợ
Chi phí vốn =
Vốn vay
Trong trường hợp doanh lợi vốn lớn hơn chi phí vốn có nghĩa là doanh
nghiệp đang trên đà phát triển hay tình hình kinh tế khả quan thì doanh nghiệp
nên huy động vốn từ hình thức vay dài hạn càng nhiều càng có lợi. Đây được
gọi là “Hiệu ứng đòn bẩy dương”.Trong trường hợp ngược lại khi doanh lợi
vốn nhỏ hơn chi phí vốn có nghĩa là tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
dang gặp khó khăn hay đó là tình hình khó khăn chung của nền kinh tế. Lúc
đó, vốn tự có của doanh nghiệp như “lá chắn” giúp doanh nghiệp đứng vững
hơn trong lúc khó khăn.Tức là doanh nghiệp nên kinh doanh bằng vốn tự có
của mình. Đây được gọi là hiệu ứng đòn bảy âm.Ta có thể xét các phương án
đầu tư sau để thấy rõ vấn đề.

Cty Cổ Phần Đầu Tư QuốcTế An Thành

9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đỗ Quốc Huy _ K9QT1
Bảng 1 -LỰA CHỌN NGUỒN VỐN TÀI TRỢ.
Dự án
Khoản mục
A B C D
Vốn tự có
Vốn đi vay
500
500
500
500
250
750
250
750
Tổng tài sản 1.000 1.000 1.000 1.000
Lợi nhuận trước thuế
và lãi
Lãi tiền vay(12%)
Lợi nhuận trước thuế
Thuế TNDN(30%)
Lợi nhuận sau thuế
150
60
90
27
63
100
60
40
12
28
150
90
60
18
42
100
90
10
3
7
Doanh lợi vốn 15% 10% 15% 10%
Doanh lợi vốn tự có 12.6% 5.6% 16.8% 2.8%
Có thể thấy rằng phương án đầu tư A và C có doanh lợi vốn bằng
nhau(15%)và lớn hơn chi phí vốn (12%).Trong khi đó,phương án C có doanh
lợi vốn tự có lớn hơn. Điều này gợi ý cho ta lựa chọn phương án C, có nghĩa
là huy động nhiều vốn vay hơn.
Còn với dự án B và D mức doanh lợi bằng nhau (10%) và nhỏ hơn chi
phí vốn.Ta cũng có thể thấy phương án B ưu việt hơn.
Như vậy, trong trường hợp doanh lợi vốn nhỏ hơn chi phí vốn thì ta nên
sử dụng vốn tự có là chủ yếu để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa
DN.
Ngoài vốn dài hạn,vốn lưu động còn được tài trợ một cách gián tiếp
thông qua vốn ngắn hạn. Đối với các doanh nghiệp, nguồn vốn ngắn hạn có ý
nghĩa rất quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nó đáp ứng cho nhu
cầu về tiền mặt trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong đó nợ ngắn hạn gồm:
Các khoản phải trả: phải trả nhà cung cấp,khách hang ứng trước hoặc
còn nợ ngân sách được gọi là nguồn vốn ứng dụng của doanh nghiệp
Cty Cổ Phần Đầu Tư QuốcTế An Thành

10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đỗ Quốc Huy _ K9QT1
Tín dụng ngắn hạn : khoản vay ngắn từ ngân hàng,các tổ chức tín dụng
hoặc cá nhân.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay,nhu cầu về vốn của doanh nghiệp
ngày một tăng, trong khi nguồn vốn dài hạn lại có hạn nên doanh nghiệp phải
tìm đủ mọi cách để chiếm dụng vốn lẫn nhau làm cho bộ phận chiếm dụng
cũng tăng lên.
Nguồn vốn chiếm dụng không thể được coi là chiến lược lâu dài để huy
động VLĐ, nó chỉ đáp ứng cho nhu cầu bổ sung VLĐ tại một thời điểm nào
đó mà thôi.
II_QUẢN LÝ VÔN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP.
1.Ý nghĩa của việc quản lý vốn lưu động:
Vì vốn lưu động là một bộ phận quan trọng tạo thành vốn kinh doanh
của DN cho nên việc quản lý VLĐ là một phần trọng yếu trong công tác quản
lý hoạt động tài chính của DN.
Vốn lưu động được phân bổ cùng một lúc trên khắp các giai đoạn luân
chuyển trong quá trình kinh doanh và tồn tại dưới các hình thái khác nhau:
Tiền sản phẩm hàng hóa tiền).Quản lý VLĐ là làm sao đầu tư đủ,kịp
thời vào các giai đoạn đó để qúa trình sản xuất kinh doanh được liên tục đồng
thời các hình thái của VLĐ phải tồn tại một cách hựp lý tối ưu và đồng bộ với
nhau
Quản lý VLĐ giúp cho đảm bảo sử dụng vốn lưu động tiết kiệm, hạ
thấp được chi phí sản xuất tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường.Do đặc điểm hoạt động của VLĐ là luân chuyển nhanh, sử dụng linh
hoạt nên nó góp phần trong đảm bảo sản xuất ra một khối lượng sản phẩm
lớn.
2.Biện pháp quản lý vốn .
2.1.Quản lý vốn dự trữ hàng hóa:
Quản lý vốn dự trữ hàng hoá để bán trong các doanh nghiệp thương
mại về cơ bản cũng giống như quản lý vốn dự trữ nguyên vật liệu trong các
doanh nghiệp sản xuất. Để quản lý tốt loại vốn này cần phối hợp nhiều biện
pháp từ khâu mua sắm, vận chuyển dự trữ ở kho.Trong đó, cần chú ý một số
biện pháp quản lý sau:
Cty Cổ Phần Đầu Tư QuốcTế An Thành

11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đỗ Quốc Huy _ K9QT1
-Lên kế hoạnh lượng nguyên vật liệu hoặc hoá cần mua trong kỳ và
lượng dự trữ tồn kho thường xuyên.
-Xác định và lựa chọn người cung ứng thích hợp.
-Thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường vật tư.Từ đó dự
đoán và quyết định điều chỉnh kịp thời việc mua sắm nguyên vật liệu hoăc
hàng hóa có lợi cho doanh nghiệp trước sự biến động của thị trường. Đây là
một số biện pháp rất quan trọng để đảm bảo vốn của doanh nghiệp .
-Lựa chọn các phương tiện vận chuyển thích hợp, giảm bớt chi phí vận
chuyển, xếp dỡ.
-Tổ chức tốt việc dự trữ, bảo quản nguyên vật liệu hoặc hàng
hoá.Thường xuyên kiểm tra,nắm vững tình hình dự trữ.Với một số loại ngyên
vật liệu cần thiết có thể mua bảo hiểm để bảo toàn VLĐ trong trường hợp rủi
do xảy ra.
2.2.Quản lý vốn bằng tiền:
Quản lý vốn bằng tiền và các loại chứng khoán có khả năng chuyển
nhượng tương đương tiền mặt (có tính thanh toán cao) là việc xác định một
lượng tiền mặt tối ưu cần dự trữ và khả năng vay mượn khi có nhu cầu tăng
nhanh tiền mặt để đáp ứng chu cầu đầu tư.
Vốn bằng tiền là yếu tố quyết định khả năng thanh toán nhanh (tức
thời)của doanh nghiệp.Nó thể hiện:

Tû suÊt thanh to¸n tøc thêi =
Tỉ suất này lớn hơn 0,5 thì tình thanh toán tương đối khả quan,còn nếu
nhỏ hơn 0,5 thì việc thanh toán củan doanh nghiệp có thể sẽ gặp khó khăn,
thậm chí trong một số trường hợp doanh nghiệp phải thanh toán gấp hàng
hoá, sản phẩm để trả nợ.Nhưng tỉ suất này nếu cao quá lại phản ảnh vốn bằng
tiền quá nhiều, vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Muốn quản lý vốn bằng tiền thì doanh nghiệp cần lập kế hoạch về ngân
quyc cho từng tháng trong năm hoăc từng tuần trong tháng.Tức là việc hoà
nhập các nhu cầu chi tiền mặt trên cơ sở lập trừ thu chi, xác định chênh lệch
giữa thu và chi tại từng thời điểm, từ đó lập kế hoàch ngân quỹ trong ngắn
hạn trên nguyên tắc mức tồn quỹ.
Cty Cổ Phần Đầu Tư QuốcTế An Thành

12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đỗ Quốc Huy _ K9QT1
Trong một số trường hợp, nhu cầu về tiền quá lớn, vượt mức dự toán
ban đầu mà quỹ tiền mặt hiện tại của doanh nghiệp không thể đáp ứng được
thì doanh nghiệp có thể tiến hành vay mươn để đáp ứng nhu cầu đó.
Có hai hình thức vay mượn đó là:
-Tín dụng thương mại: là sự mua chịu hàng hóa,nguyên vật liệu của
doanh nghiệp đối với doanh nghiệp khác. Mặc dù đã xác định lượng vốn bằng
tiền cần thiết trong một thời kỳ nhất định nhưng doanh nghiệp không phải lúc
nào cũng đáp ứng được nhu cầu về tiền mặt trong sản xuất kinh doanh.Vì thế
doanh nghiệp phải sử dụng công cụ này. Và công cụ này nếu biết sử dụng sẽ
mang laị hiệu quả cho doanh nghiệp.Tuy nhiên không được phép lạm dụng,
nếu không doanh nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng nợ lần chồng chất và mất khả
năng thanh toán.
-Tín dụng ngân hàng: là việc đi vay ngắn hạn Ngân hàng dưới hình
thức vay để hỗ trợ ngân quỹ, vay có bảo đảm hoặc sử dụng những công cụ nợ
(chiết khấu thương phiếu…).
Trong việc quản lý vốn bằng tiề cấn lưu ý những nguyên tắc sau:
Quản lý chặt chẽ các khoản thu,chi bằng tiền:
-Các khoản thu chi bằng tiền phải thông qua quỹ.
-Phải có sự phân định trách nhiệm rõ ràng trong quản lý tiền mặt giữa
thủ quỹ và nhân viên kế toán tiền mặt
-Cuối mỗi ngày, thủ quỹ phải kiểm kê số tiền tồn quỹ và đối chiếu số
liệu trong sổ quỹ kế toán.Nếu có sự chênh lệch cần kiểm tra lại ngay và tìm ra
nguyên nhân, đồng thời giải quyết sự việc một cách kịp thời.
-Số tiền thu trong ngày vượt quá mức dự trữ Ngân quỹ tối thiểu cần
thiết thì phải gửi vào Ngân hàng để sinh lời và bảo đảm an toàn .
-Cần quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt xác định ro đối
tượng, thời hạn hoàn tạm ứng.
Bảo đảm khả năng thanh toán,duy trì dự trữ tiền tệ ở mức cần thiết:
Trong việc quản lý Ngân quỹ thì đảm bảo có một khối lượng tiền đủ
lớn để có thể thanh toán các khoản nợ đến hạn vá khác khoản chi tiêu hàng
ngày của doanh nghiệp.Trong đó cần xác định mức dự trữ tiền tệ cần thiết bao
gồm cả tiền mặt tại quỹ và tiền gửi.Khi xác định định mưc dự trữ tiền tệ cần
dựa trên cơ sở các yếu tố sau :
Cty Cổ Phần Đầu Tư QuốcTế An Thành

13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đỗ Quốc Huy _ K9QT1
-Về giao dịch kinh doanh: doanh nghiệp cần có lượng tiền mặt nhất
địnhđể đảm bảo cho hoạt động kinh doanh hàng ngày như thanh toán các
khoản mua nguyên vật liệu khoặc hàng hoá với người cung cấp và các khoản
chi tiêu hàng ngày.
-Về dự phòng các khoản thanh toán: doanh nghiệp phải xác định một
lượng tiền dự trữ nhất định để đề phòng trường hợp có sự biến động không
lường trước được (năm ngoài dự kiến) như: khách hàng không trả đúng hạn,
máy móc hỏng hóc bất ngờ cấn phải sữa chữa ngay để tiếp tục sản xuất …Nếu
doanh nghiệp có uy tín với bạn hàng hay có thể thực hiện các khoản vay ngắn
hạn tại Ngân hàng thì số tiền dự phòng có thể giảm xuống.
2.3.Quản lý các khoản phải thu:
Trong hoạt động kinh doanh nảy sinh việc doanh nghiệp xuất giao
thành phẩm hàng hoá cho khách hàng và sau một thời gian nhất định mới thu
được tiền.Hình thức này gọi là “bán chịu”.Thực ra trong kinh doanh các
doanh nghiệp cần có sự tin tưởng lẫn nhau, tạo điều kiện bằng cách cung cấp
“tín dụng thương mại” để hai bên cùng có lợi.Tuy nhiên, việc quản lý các
khoản phải thu là rất khó khăn và phức tạp, đồng thời nó cũng có vai trò rất
quan trọng trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp vì :
-Việc quản lý các khoản phải thu liên quan chặt chẽ tới việc tiêu thụ
sản phẩm và từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu bán hàng và lợi nhuận
của doanh nghiệp.Trong trường hợp doanh nghiệp bán chịu cho nhiều khách
hàng và với số lượng lớn thì dễ bị chiếm dụng vốn lâu dài, thậm chí không
đòi được dẫn đến mất nguồn vốn của doanh nghiệp. Nhưng nếu doanh nghiệp
áp dụng một cách cứng nhắc, bắt khách hàng thanh toán ngay sau khi giao
hàng thì thực chất đã không tạo điều kiện cho khách hàng, sẽ đẩy khách hàng
đi tìm bạn hàng mới.
-Việc quản lý khoản phải thu liên quan chặt chẽ đến việc tổ chức và
bảo toàn VLĐ của doanh nghiệp .
-Việc tăng thêm khoản phải thu khách hàng kéo theo một số vấn đề
sau : Phải tăng thêm một số khoản chi phai như: chi phí quản lý nợ, chi phí
thu hồi nợ (chi phí cho nhân viên quản lý, điện thoại,fax, đi lại ).
Doanh nghiệp phải tìm thêm nguồn vốn vay để đáp ứng nhu cầu vốn
cho quá trình king doanh tiếp theo do vậy phải tốn thêm chi phí nợ vay.
Cty Cổ Phần Đầu Tư QuốcTế An Thành

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét