Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Tài liệu Quyết định số 475-NHCT/QĐ pdf

Điều 9: Lãi suất cho vay
Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại quy định lãi suất cho vay cụ thể đối với từng
ngành kinh tế trong phạm vi khung lãi suất cho vay do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
ấn định.
Điều 10: Thu nợ
10.1. Bên vay có trách nhiệm trả đủ tiền nợ gốc và tiền lãi đúng hạn. Nợ đến hạn mà bên
vay chưa trả đủ thì Ngân hàng được trích tài khoản tiền gửi của bên vay để thu, nếu số dư
trên tài khoản tiền gửi không đủ để thu nợ thì Ngân hàng chuyển số thiếu sang nợ quá
hạn.
10.2. Trường hợp đến hạn vì lý do khách quan bên vay không trả được đầy đủ mức tiền
phải trả thì bên vay có thể làm đơn giải trình xin gia hạn nợ. Giám đốc chi nhánh Ngân
hàng trực thuộc xem xét và có thể chấp nhận cho gia hạn nợ.
- Mỗi món vay ngắn hạn có thể cho gia hạn nợ một lần hoặc nhiều lần, nhưng tổng số
ngày gia hạn nợ không được vượt quá thời hạn cho vay.
- Mỗi món vay trung hạn, dài hạn số lần cho gia hạn nợ tối đa bằng 1/3 số kỳ hạn nợ ghi
trên khế ước, thời hạn gia hạn nợ mỗi kỳ hạn không quá số ngày của một vòng luân
chuyển vốn lưu động của bên vay.
Trường hợp bên vay đề nghị gia hạn nợ vượt quá quy định nói trên do Giám đốc Chi
nhánh Ngân hàng tỉnh, thành phố quyết định.
Điều 11: Kiểm tra, xử lý
Ngân hàng thực hiện việc kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay. Bên vay có trách
nhiệm cung cấp những tài liệu cần thiết để Ngân hàng thực hiện việc kiểm tra. Tài liệu,
số báo cáo phải trung thực.
Quá trình kiểm tra, nếu thấy bên vay vi phạm nguyên tắc, điều kiện vay vốn thì tuỳ từng
trường hợp mà xử lý: Hạn chế, đình chỉ cho vay, thu hồi nợ trước hạn, phát mại tài sản
thế chấp hoặc khởi kiện với trọng tài kinh tế hoặc cơ quan pháp luật.
B. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ
B1. Cho vay ngắn hạn
Điều 12: Trường hợp bên vay được Ngân hàng tín nhiệm
12.1. Bên vay muốn được Ngân hàng xem xét cho vay phải có các điều kiện sau:
1. Sản xuất kinh doanh ổn định, có lãi, dự án kinh doanh chứng minh được tính khả thi về
hiệu quả kinh tế rõ ràng.
2. Có tín nhiệm với Ngân hàng trong quan hệ vay trả, thanh toán và tiền mặt: Nợ quá hạn
cũ đã được giải quyết 6 tháng gần nhất không phát sinh nợ quá hạn ; không nợ dây dưa
thuế, lương công nhân và bạn hàng ; hoặc tổng dư nợ xin vay không quá 30% vốn kinh
doanh thực có của bên vay.
12.2. Bên vay xét thấy đủ điều kiện trên thì làm văn bản đề nghị Ngân hàng trực tiếp cho
vay xét. Ngân hàng tiến hành thẩm định nếu chấp thuận thì có văn bản trả lời cho bên
vay.
Việc thẩm định để xét duyệt bên vay được Ngân hàng tín nhiệm tiến hành theo từng món
vay.
12.3. Mỗi món vay, bên vay phải gửi cho Ngân hàng đơn xin vay theo mẫu Ngân hàng in
kèm theo các tài liệu sau:
a) Báo cáo thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh tài chính của bên vay đến ngày gần
nhất.
b) Dự án kinh doanh
c) Các loại hợp đồng (nếu có)
12.4. Mỗi lần vay bên vay phải làm giấy nhận nợ (theo mẫu Ngân hàng in) kèm theo giấy
tờ thanh toán tiền hàng và xuất trình các chứng từ gốc (nếu có).
12.5. Xét duyệt cho vay
a) Nhận được hồ sơ xin vay của bên vay trong phạm vi 3 ngày làm việc cán bộ tín dụng
phải thẩm định về các điều kiện vay vốn, thực trạng sản xuất kinh doanh của bên vay,
tính khả thi cuả dự án, kinh doanh và lập tờ trình theo phụ lục số 5 thông qua trưởng
phòng tín dụng kiểm tra lại và ký trình giám đốc Ngân hàng xét duyệt.
Cán bộ tín dụng và trưởng phòng tín dụng chịu trách nhiệm về số liệu, tình hình và ý kiến
của mình ghi trên tờ trình.
b) Giám đốc Ngân hàng quận huyện, thị xã, khu vực chỉ được duyệt cho vay khi món xin
vay được xem xét kỹ có đủ chữ ký của cán bộ tín dụng, trưởng phòng tín dụng. Những
món vay cán bộ tín dụng, trưởng phòng tín dụng xét không cho vay được hoặc mức cho
vay thấp hơn yêu cầu của bên vay phải ghi rõ ý kiến của mình trong tờ trình. Giám đốc
Ngân hàng có trách nhiệm xem xét và có quyền quyết định cho vay hay không cho vay.
Nếu món vay vượt mức phán quyết thì phải lập tờ trình và gửi hồ sơ của món vay lên
Ngân hàng cấp trên xét duyệt.
Trường hợp bên vay không đủ điều kiện vay vốn hoặc món vay xét thấy không cho vay
được thì giám đốc chi nhánh ngân hàng cho vay ghi rõ lý do không cho vay trả hồ sơ cho
bên vay.
c) Giám đốc chi nhánh Ngân hàng tỉnh, thành phố tổ chức thẩm tra lại các món vay mức
phán quyết của giám đốc chi nhánh ngân hàng trực thuộc trình. Nếu món vay xét cho vay
được và trong phạm vi mức phán quyết thì duyệt và gửi trả lại hồ sơ món vay để giám
đốc chi nhánh Ngân hàng trực thuộc thực hiện.
Trường hợp món vay vượt mức phán quyết của giám đốc chi nhánh Ngân hàng tỉnh,
thành phố thì lập tờ trình gửi kèm theo hồ sơ vay vốn trình Tổng Giám đốc Ngân hàng
Công thương xét duyệt.
d) Khi được duyệt cho vay, cán bộ tín dụng phải lưu giữ các giấy tờ nói tại điều 12.3 và
12.4 để theo dõi phát tiền vay và thu nợ.
12.6. Phát tiền vay:
1. Nhận được thông báo chấp thuận cho vay của Ngân hàng, bên vay cùng Ngân hàng
thoả thuận thời gian, mức, cách thức nhận tiền vay của món vay đó. Ngân hàng có thể
phát tiền vay một lần hoặc nhiều lần cho đủ số tiền của món cho vay phù hợp nhu cầu sử
dụng vốn của bên vay.
2. Tuỳ theo đối tượng vay vốn và phương thức thanh toán của bên vay, Ngân hàng cho
bên vay nhận tiền vay theo các hình thức:
- Chuyển khoản trả thẳng cho người thụ hưởng.
- Mở thư tín dụng, séc bảo chi, sổ séc định mức.
- Nhận tiền mặt hoặc chuyển vào tài khoản tiền gửi. Ngân hàng không cho vay đảo nợ
(cho vay mới, trả nợ cũ).
3. Mỗi lần nhận tiền vay, bên vay phải lập khế ước nhận tiền ghi rõ thời hạn trả nợ và
mức trả nợ từng kỳ hạn của từng lần vay phù hợp về kế hoạch trả nợ đã được thoả thuận
ghi trong đơn xin vay.
Người ký trên giấy nhận nợ và trực tiếp nhận tiền như quy định tại điều 3.1 ; Trường hợp
uỷ quyền cho người đại diện ký và nhận tiền vay thì phải có văn bản uỷ quyền đăng ký
mẫu chữ ký gửi Ngân hàng.
12.7. Lãi suất cho vay
Áp dụng đúng quyết định của Tổng giám đốc Ngân hàng Công thương đối với từng
ngành, từng thời gian và quyết định này phải được niêm yết công khai nơi thuận tiện để
khách hàng dễ nhận biết.
Đối với đơn vị kinh doanh nhiều ngành nghề thì áp dụng mức lãi suất theo ngành nghề
mà bên vay thu được số lợi nhuận tuyệt đối cao hơn.
12.8. Thu nợ, thu lãi
1. Mỗi món vay được quy định thời hạn trả nợ cuối cùng và mức trả từng kỳ hạn, mỗi
tháng là một kỳ hạn, những tháng không có thu nhập thì không quy định kỳ hạn nợ.
Bên vay có thể trả nợ trước hạn. Khi đến hạn trả nợ theo từng kỳ hạn, bên vay có trách
nhiệm trả đủ nợ Ngân hàng, nếu còn thiếu thì được chuyển sang kỳ hạn kế tiếp. Đến hạn
trả nợ cuối cùng bên vay không trả hết nợ mà không được Ngân hàng xét cho gia hạn nợ
thì chuyển phần còn thiếu sang nợ quá hạn.
2. Bên vay có thể trả nợ bằng tiền mặt hoặc tiền chuyển khoản. Đến hạn trả bên vay
không chủ động trả thì Ngân hàng trích tài khoản tiền gửi của bên vay để thu nợ.
3. Tính và thu lãi tiền vay thực hiện vào những ngày cuối tháng, nếu khoản vay có thời
hạn trả dưới 30 ngày thì thu lãi khi thu nợ gốc.
Ngân hàng thu lãi bằng cách trích tài khoản tiền gửi của bên vay để thu. Trường hợp bên
vay không trả đủ, về nguyên tắc ngân hàng sẽ nhập lãi vào nợ gốc, trước mắt số lãi chưa
thu được hạch toán vào tài khoản ngoại bảng để theo dõi và đôn đốc thu khi tài khoản
tiền gửi có tiền.
4. Trước khi được chấp nhận giải thể, sáp nhận bên vay phải trả hết nợ vay Ngân hàng.
Trường hợp bên vay bị tuyên bố phá sản thì phải thanh lý tài sản, trả hết nợ và l.ãi. Người
đại diện vay vốn Ngân hàng chuyển công tác, chết, mất tích, đi tù thì người thừa kế theo
luật định có trách nhiệm nhận nợ Ngân hàng và trả thay.
Điều 13. Thế chấp tài sản và xử lý tài sản thế chấp của bên vay
13.1. Thế chấp tài sản để vay tiền Ngân hàng là việc một đơn vị kinh tế, cá nhân đem tài
sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình và có thể bán được giao cho Ngân hàng quản
lý tài sản làm vật đảm bảo để vay tiền Ngân hàng làm vốn sản xuất, kinh doanh ; đến hạn
trả nếu bên vay trả nợ sòng phẳng cả gốc và lãi thì Ngân hàng trả lại cho bên vay nguyên
vẹn tài sản đó, nếu không trả được thì Ngân hàng xử lý (phát mại) tài sản thế chấp để thu
hồi nợ và lãi tiền vay.
13.2. Mỗi món vay, bên vay phải gửi Ngân hàng.
1. Đơn xin vay nói rõ mục đích, đối tượng và thời hạn vay vốn - theo mẫu Ngân hàng in.
2. Các văn bản pháp lý về giá trị tài sản thế chấp
13.3. Quy định về tài sản thế chấp
1. Bên vay có thể thoả thuận thế chấp toàn bộ hoặc một phần tài sản thuộc sở hữu hợp
pháp của mình và có thể bán được để đảm bảo nợ vay Ngân hàng. Tài sản thế chấp nếu là
bất động sản do bên thế chấp giữ; Nếu là động sản do Ngân hàng giữ hoặc cả hai bên
cùng quản lý.
2. Loại tài sản được dùng để thế chấp
a. Vàng lá hoặc đồ trang sức bằng vàng, bạc, đá quý kim cương
b. Nhà ở, nhà máy, phân xưởng, cửa hàng, khách sạn, công trình xây dựng khác.
c. Tàu biển, tàu pha sông biển, xà lan, các loại ô tô vận tải, xe con.
d. Vườn cây lâu năm, cây ăn quả, ao hồ thả cá, vùng nuôi trồng thuỷ hải sản.
3. Tiêu chuẩn của tài sản thế chấp:
a. Là sở hữu hợp pháp của bên vay, có chứng nhận của cơ quan công chứng Nhà nước.
- Nếu là nhà ở, nhà máy, phân xưởng, cửa hàng, khách sạn, công trình xây dựng khác ở
đô thị phải có chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp của cơ quan Nhà đất có thẩm quyền
cấp ; ở ngoại thành, ngoại thị phải có giấy chứng nhận của UBND xã.
- Nếu là vườn cây, ao cá, vùng nuôi trồng thuỷ hải sản phải có chứng nhận của cơ quan
có thẩm quyền.
- Nếu là tàu biển, tàu pha sông biển, xà lan, ô tô, xe máy thì phải có giấy đăng ký sở hữu,
giấy phép lưu hành và sổ khai đăng ký xe cơ giới do công an có thẩm quyền và có giấy
bảo hiểm.
- Tài sản thế chấp thuộc loại đồng sở hữu thì tờ cam kết thế chấp phải có chữ ký của các
thành viên.
+ Nhà ở thì phải có chữ ký của người từ đủ 18 tuổi trở lên trong hộ khẩu gia đình.
+ Tài sản thuộc sở hữu của HTX, công ty, xí nghiệp liên doanh phải có biên bản của Hội
đồng quản trị, số thành viên ký trên biên bản phù hợp với điều lệ của tổ chức đó.
- Tất cả các loại giấy tờ nói trên đều phải là bản chính, các bản sao, giấy viết tay hoặc các
loại giấy tờ khác để thay thế đều không có giá trị cho việc làm thủ tục thế chấp tài sản.
b. Có thể bán được tại thị trường địa phương
- Nhà ở kiên cố (nhà cấp 3 trở lên)
Nhà máy, phân xưởng, cửa hàng, khách sạn (gồm cả thiết bị lắp đặt) đang sản xuất, kinh
doanh có hiệu quả.
- Tàu biển, tàu pha sông biển, xà lan, ô tô, xe máy còn giá trị sử dụng từ 50% trở lên.
- Vườn cây lấy gỗ, cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị xuất khẩu và tiêu dùng tại địa
phương.
4. Hình thức thế chấp tài sản
a. Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản và được cơ quan công chứng Nhà
nước chứng thực.
b. Trong văn bản thế chấp phải ghi rõ chủng loại, số lượng, chất lượng, giá trị tài sản, thời
hạn thế chấp, phương thức xử lý tài sản thế chấp.
- Gía trị tài sản do bên vay đề nghị, ngân hàng thẩm định và chấp nhận giá trị tài sản sát
với giá địa phương.
- Thời hạn thế chấp là thời hạn trả nợ cuối cùng của món vay
5. Nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản
a. Phải giao cho Ngân hàng giấy tờ gốc chứng nhận quyền sở hữu tài sản như quy định tại
điểm 3 điều 13.3.
b. Tài sản thế chấp nếu là bất động sản do bên thế chấp giữ, nếu đang sử dụng vào sản
xuất kinh doanh thì được sử dụng và hưởng hoa lợi ; nếu là phương tiện vận tải thuỷ, bộ
mà bên thế chấp đang sử dụng thì bên thế chấp được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh
doanh.
Bên thế chấp có trách nhiệm bảo quản tài sản thế chấp, duy trì nguyên hình dạng, phẩm
chất và giá trị tài sản.
c. Không được bán, tặng, cho, cho thuê, cho mượn, trao đổi tài sản thế chấp, không được
dùng tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ khác.
6. Nghĩa vụ của Ngân hàng cho vay (bên nhận tài sản thế chấp)
a. Tài sản thế chấp nếu là vàng lá, đồ trang sức bằng vàng phải tổ chức kiểm định chất
lượng và trọng lượng (chi phí kiểm định do bên thế chấp chịu), niêm phong có đủ chữ ký
của 2 bên. Ngân hàng phải giữ, phải bảo quản theo chế độ bảo quản vật quý, không được
bán, tặng, cho thuê, cho mượn, trao đổi tài sản thế chấp.
b. Phải trả lại tài sản, giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản thế chấp, khi bên vay đã
trả đủ nợ gốc và lãi của một hay nhiều món vay cho bên thế chấp hay người thừa kế theo
pháp luật quy định.
Ngân hàng phải bảo quản hồ sơ thế chấp theo chế độ bảo quản chứng từ có giá. Hư hỏng,
mất mát chứng từ gốc thì ngân hàng phải có trách nhiệm phục chế, phí phục chế ngân
hàng chịu.
c. Trong thời gian hiệu lực của tài sản thế chấp. Ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra,
bên vay có trách nhiệm chứng minh tài sản vẫn được duy trì nguyên dạng, phẩm chất và
giá trị.
7. Xử lý tài sản thế chấp
a. Sau 10 ngày của thời hạn trả nợ cuối cùng của món vay, bên vay không thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, mặc nhiên ngân hàng được quyền phát mại tài sản thế chấp.
Khi phát mại tài sản phải lập hội đồng, có đại diện của cơ quan pháp luật, cơ quan công
chứng hoặc UBND Quận, huyện, xã (cơ quan chứng thực tài sản thế chấp, quản lý kho
hàng hoặc bảo lãnh tài sản). Bên vay có thể có mặt khi phát mại với tư cách dự thính.
b. Tài sản phát mại bán đấu giá công khai. Trường hợp khi phát mại, tài sản không bán
được ngay phải có thời gian, nếu tài sản đó bên thế chấp, bảo lãnh đang giữ hay đang sử
dụng thì phải giao cho Ngân hàng giữ và quản lý, Ngân hàng hạch toán ngoại bảng để
theo dõi số lượng, giá trị và quản lý an toàn tài sản đó.
Số dư nợ chưa trả không tính lãi kể từ khi phát mại tài sản.
c. Số tiền thu được do bán đấu giá tài sản thế chấp được trả theo thứ tự ưu tiên sau đây:
- Chi phí cáo kiện, tố tụng
- Chi phí về tổ chức phát mại
- Thu nợ gốc, lãi
- Nếu còn trả lại cho bên vay hoặc cho người thừa kế. Nếu bên vay không nhận hoặc
không có điều kiện nhận thì ngân hàng hạch toán vào tài khoản phải trả.
d. Trường hợp giá trị tài sản khi phát mại không đủ để trả nợ gốc và lãi ngân hàng, thì
bên vay có trách nhiệm trả đủ trong một thời hạn nhất định và phải chịu lãi suất quá hạn
trong thời gian trả chậm. Hết thời hạn đó nếu vẫn chưa trả đủ gốc và lãi thì xử lý theo chế
độ tín dụng hiện hành.
e. Mọi tranh chấp khi xử lý tài sản thế chấp do Trọng tài kinh tế hoặc toà án kết luận, hai
bên có trách nhiệm thi hành.
Bên nào thua thì phải chịu chi phí xét xử.
13.4. Mức cho vay so với tài sản thế chấp như quy định tại điều 6
- Một tài sản thế chấp có thể dùng thế chấp cho một món vay hay nhiều món vay tại một
ngân hàng nhưng tổng mức vay không được vượt mức vay như quy định tại điều 6.
- Khi trả hết nợ cho một món vay tài sản thế chấp này bên vay được sử dụng thế chấp
món vay khác, không phải làm lại thủ tục thế chấp nhưng phải qua công chứng Nhà nước
chứng thực.
13.5. Xét duyệt cho vay
1. Khi xét cho vay cán bộ tín dụng kiểm tra về tư cách pháp nhân của bên vay ; tính hợp
pháp ; hợp lý cuả hồ sơ thế chấp tài sản, nội dung xin vay, tính toán hiệu quả kinh tế,
thông qua trưởng phòng tín dụng để trình giám đốc ngân hàng xét duyệt.
2. Giám đốc Ngân hàng tỉnh, thành phố giải quyết một món cho vay như quy định tại
điểm b, c điều 12.5.
13.6. Phát tiền vay, lãi suất cho vay, thu nợ, thu lãi như quy định tại điều 12.6, 12.7, 12.8.
Điều 14: Bảo lãnh tài sản trong vay vốn của ngân hàng.
14.1. Bảo lãnh bằng tài sản là việc một tổ chức kinh tế hoặc cá nhân đem tài sản, tiền vốn
hợp pháp của mình để thế chấp thay cho bên vay vốn, đến hạn trả nợ cuối cùng bên vay
không đủ trả nợ gốc và lãi thì người bảo lãnh phải trả nợ thay, nếu không trả được thì
ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp của người bảo lãnh như tài sản thế chấp của
bên vay.
14.2. Bên bảo lãnh nếu là tổ chức phải có đủ tư cách pháp nhân, nếu là cá nhân phải có
quyền công dân, là chủ sở hữu tài sản và có khả năng nhận thức. Tổ chức thuộc sở hữu
quốc doanh, Ngân hàng chỉ nhận tài sản làm bảo lãnh hình thành bằng vốn của xí nghiệp
(không thuộc vốn pháp định Nhà nước cấp).
14.3. Loại tài sản, tiêu chuẩn tài sản, hình thức nghĩa vụ của hai bên và xử lý đối với tài
sản bảo lãnh như quy định tại điều 13.3 đối với tài sản thế chấp.
14.4. Nếu bảo lãnh bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ thì số tiền bảo lãnh phải do chủ tài
khoản và kế toán trưởng ký trong phạm vi thẩm quyền và được ký thác vào tài khoản
riêng tại Ngân hàng cho vay. Tiền ký thác được trả lãi như tiền gửi của tổ chức kinh tế.
14.5. Mức cho vay, xét duyệt cho vay, phát tiền vay và lãi suất cho vay, thu nợ, thu lãi
như quyđịnh tại điều 6 điểm 12.5, 12.6, 12.7, 12.8.
Điều 15: Trường hợp bên vay có kho hàng do bên vay và Ngân hàng cùng quản lý
15.1. Bên vay có thể thoả thuận với Ngân hàng đưa toàn bộ hoặc một phần giá trị kho
hàng được hình thành bằng vốn tự có, hoặc vốn vay để trả hết nợ thuộc quyền sở hữu hợp
pháp của mình ; hoặc vay vốn ngân hàng để nhập vật tư hàng hoá đưa vào kho hai bên
cùng quản lý để làm vật đảm bảo nợ vay.
Việc thoả thuận phải lập thành văn bản và đăng ký với trọng tài kinh tế và phải đảm bảo
các nguyên tắc.
1. Hàng hoá phải nguyên phẩm chất, hợp thị hiếu có thể bảo quản được dài ngày mà
không mất phẩm chất, không lạc hậu về kỹ thuật. Các loại hàng hoá này có thể bán được
dễ dàng ra thị trường.
Hàng hoá phải được kiểm định về chất lượng, kiểm kê về số lượng, lập biên bản ghi rõ số
lượng, chủng loại và giá trị.
2. Kho hàng phải có đủ điều kiện về an toàn, chống được trộm cắp, lụt lội, hoả hoạn, suy
giảm chất lượng hàng hoá.
3. Cửa kho phải khoá hai khoá khác chìa, ngân hàng giữ chìa của một khoá.
4. Bên vay phải chịu trách nhiệm bảo quản, bảo vệ, chi phí do bên vay chịu.
5. Bên vay có sổ sách hạch toán theo dõi nhập, xuất, tồn kho.
6. Ngân hàng chỉ cho bên vay xuất kho vật tư, hàng hoá để sử dụng có giá trị tương
đương số tiền đã trả nợ gốc và lãi.
7. Kho vật tư, hàng hoá phải được niêm phong có chữ ký của hai bên. Định kỳ ngân hàng
và người vay cùng kiểm tra về chất lượng, kiểm kê về số lượng tồn kho vật tư hàng hoá.
15.2. Đến kỳ hạn trả nợ, bên vay không trả đủ nợ gốc và lãi mà không có đơn xin gia hạn
với lý do chính đáng, ngân hàng có quyền xử lý kho hàng để thu hồi nợ. Nội dung xử lý
như điểm 7 điều 13.3 quy định về thế chấp tài sản.
15.3. Mức cho vay như quy định tại điều 6, xét duyệt cho vay, phát tiền vay, thu nợ, thu
lãi như quy định tại điều 12.6, 12.7, 12.8, 12.9.
B2. Cho vay trung hạn dài hạn
Điều 16
16.1. Trước mắt ngân hàng cho vay trung hạn là chủ yếu đối với những cơ sở sản xuất
kinh doanh sẵn có về các đối tượng: Chi phí xây lắp, thiết bị để thực hiện các dự án về cải
tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, đổi mới thiết bị, kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất hàng
xuất khẩu, hàng tiêu dùng thiết yếu các công trình có thể thu hút nhiều lao động.
Đối với các công trình XDCB mới ngân hàng chỉ cho vay khi có nguồn vốn tài trợ của
các tổ chức khác.
16.2. Để được vay vốn bên vay phải gửi đến Ngân hàng đơn xin vay (theo mẫu ngân
hàng in) và các tài liệu sau:
- Bản luận chứng kinh tế kỹ thuật công trình và bản duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của
cấp có thẩm quyền.
- Tổng dự toán các hạng mục công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Các thủ tục về XDCB.
- Các loại hợp đồng và văn bản có liên quan đến cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm.
- Báo cáo thực trạng tài chính đến ngày vay vốn.
- Nếu bên vay phải thế chấp tài sản thì phải gửi các văn bản pháp lý về tài sản thế chấp
hoặc bảo lãnh (qui định về thế chấp tài sản như nói ở điều 13).
16.3. Xét duyệt cho vay:
a) Căn cứ vào hồ sơ của bên vay gửi đến, trong phạm vi 15 ngày làm việc cán bộ tín dụng
phải thẩm tra tính hợp pháp, hợp lý của hồ sơ xin vay, tiến hành các bước thẩm định cụ
thể sau đó lập tờ trình thông qua trưởng phòng tín dụng để trình giám đốc ngân hàng xem
xét quyết định (phương pháp thẩm định có hướng dẫn riêng).
b) Trình tự xét duyệt cho vay của Giám đốc chi nhánh ngân hàng trực thuộc chi nhánh
tỉnh, thành phố như qui định tại điều này.
16.4. Cách cho vay:
Nhận được quyết định duyệt cho vay, trong phạm vi mức cho vay của kỳ kế hoạch, theo
từng cơ cấu đầu tư: xây lắp, thiết bị chi nhánh ngân hàng cho vay phát tiền vay theo tiến
độ thực hiện công trình.
a) Căn cứ để cho vay xây lắp là hợp đồng giao thầu, biên bản nghiệm thu khối lượng xây
lắp và các chứng từ thanh toán hợp lệ trong phạm vi dự toán vốn xây lắp được duyệt.
Trường hợp công trình tự làm phải hạch toán riêng theo chế độ kế toán XDCB của Nhà
nước. Ngân hàng căn cứ vào dự toán và các chứng từ thanh toán hợp lệ để cho vay.
b) Căn cứ để cho vay thiết bị là hợp đồng nhập khẩu hoặc đặt mua thiết bị trong nước,
các chi phí tiếp nhận, vận chuyển để trả cho người thụ hưởng. Trường hợp phải trả bằng
ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị, thì ngân hàng cho bên vay, vay tiền đồng để mua

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét